Nature Review Microbiology- Research Highlights

Trần Hoàng Dũng

Administrator
Staff member
Bạn thích ngành vi sinh, bạn có thể tìm thấy những khám phá mới qua phần Hightlight trên tờ Nature Review Microbiology số mới nhất. Mỗi một mẫu tin nhỏ sẽ cho bạn nhiều cơ hội vừa học vừa chơi. Bạn không cần dịch hết đâu, chỉ một bản tin là đủ rồi.. Nhớ để tên bạn và bản tin mà bạn ưng ý để mọi người cùng ... chờ đợi.
 
ok, Tiếng Anh em đã có nền tảng, dịch thêm bài này càng làm English em tăng tiến. Em có thể rủ rê thêm bạn bè em vừa học vừa chơi kiểu này. Những bài em dịch sẽ được đưa qua thuvienkhoahoc chỗ Hiếu vừa làm xong.

Bài mà em dự tính dịch anh thấy kô dài lắm, em có thể đọc thông thả và cố gắng để có một bản Vnese "đẹp".
 
Bài em đã dịch xong và giờ me pót lên hy vọng không phải sửa nhiều:



Sự tập trung sức mạnh trong vaccine BCG
Packing the punch into BCG


Infection with Mycobacterium tuberculosis remains a leading cause of death worldwide, despite the widespread use of the Mycobacterium bovis bacille Calmette-Guérin (BCG) vaccine. Although BCG provides protection against disseminated childhood tuberculosis, protectionagainst pulmonary tuberculosis in adults is limited, in part because of its inefficient activation of T-cell immunity.

Sự xâm nhiễm của Mycobacterium tubeculosis (vi khuẩn gây bệnh lao) là nguyên nhân hàng đầu gây chết người trên toàn thế giới mặc dù việc sử dụng vaccine Mycobaterium bovis bacille calmette-Guerin (BCG) đã trở nên phổ biến. Mặc dù vacine BCG cung cấp sự bảo vệ  chống lại sự gieo rắc bệnh lao phổi ở trẻ em, nhưng sự bảo vệ này bị giới hạn ở người lớn mà một phần là do sự kích hoạt kém hiệu quả của nó đối với các tế bào T của hệ miễn dịch.

Now, reporting in the Journal of Clinical Investigation, Stefan Kaufmann and colleagues describethe generation of a novel BCG strain equipped with a virulence proteinfrom Listeria monocytogenes. The authors provide evidence for the increased protective effect of this vaccine and propose a mechanism to explain its enhanced efficacy.

Hiện nay, Stefan Kaufman và các đồng sự báo cáo trên tạp chí nghiên cứu bệnh lý
( Journal of clinical Investigation ), đã mô tả cách tạo ra dòng vaccine BCG mới mang các protein có độc tính từ Listeria monocytogenes .Các tác giả đã cung cấp các băng chứng cho thấy sự tăng lên hiệu quả bảo vệ của loại vaccine này, đồng thời đề xuất một cơ chế để giải thích sự tăng lên này.

Protection against M. tuberculosis requires optimal CD4+ and CD8+ T-cell immunity, but it is the generation of the latter that poses a problem. Both M. tuberculosis and BCG reside in the phagosomes of antigen-presenting cells (mainly macrophages and dendritic cells), which channel mycobacterial antigens into the MHC class II pathway. As CD4+ T cells, but not CD8+ T cells, interact with MHC class II molecules, the isolation of infecting mycobacteria in phagosomes favours the activation of the helper-T-cell response.

Sự bảo vệ chống lại M.tubeculosis cần đến các tế bào T CD4+ và CD8+ tối ưu, nhưng sự tạo ra các tế bào CD8+ là cả một vấn đề. Cả M .tubeculosis và phần vaccine BCG đều nằm trong phagosome của tế bào trình diện kháng nguyên (APC-chủ yếu là các đại thực bào và các tế bào nhánh khác), các tế bào APC này sẽ hướng những kháng nguyên vi khuẩn kháng acid vào trong con đường MHC lớp hai. Khi những tế bào T CD4+, nhưng các tế bào CD8+ thì không, tương tác với những phân tử của MHC lớp hai, sự cô lập các vi khuẩn kháng acid xâm nhiễm trong những phagosome sẽ giúp cho sự kích hoạt các đáp ứng của tế bào TH (tế bào T hỗ trợ).

To redress the balance of the T-cell response to mycobacterial infection, Kaufmann and colleagues generated a recombinant BCG (rBCG) strain that secreted listeriolysin, a protein used by L. monocytogenes to perforate the phagosome membrane. As the ‘hole punching’ function of listeriolysin is optimal at an acid pH, the BCG urease C gene, which encodes an enzyme that neutralizes the pH of the phagosome, was
also deleted. The authors reasoned that disruption of the phagosome by functional listeriolysin would dislodge BCG into the cytoplasm, activating CD8+ T cells through the MHC class I pathway


Để tạo nên sự cân bằng trong đáp ứng của tế bào T với sự xâm nhiễm của vi khuẩn kháng acid (mycobacterial infection) , Kaufman và các đồng sự tạo ra dòng vaccine BCG tái tổ hợp kích thích tạo ra listeriolysin, đây là một protein được các L.monocytogene sử dụng để khoan các lỗ trên màng của phagosome. Khi chức năng “khoan lỗ” của listeriolysin được tối ưu ở pH acid, gene BCG urease C  mã hoá một enzyme làm trung tính hoá pH trong phagosome cũng bị loại đi. Các tác giả lý luận rằng sự phá vỡ phagosome bởi các listeriolysin sẽ đưa  BCG vào trong tế bào chất, đồng thời sẽ kích hoạt tế bào T CD8+ thông qua con đường MHC lớp hai.

Indeed, macrophages infected with the .ureC hly+ rBCG strain accumulated mycobacterial antigens in the cytoplasm. And the new vaccine strain was significantly more effective than unmodified BCG in protecting mice against infection with both a laboratory strain and a new clinical isolate of M. tuberculosis.

Thực vậy, các đại thực bào bị nhiễm dòng ∆ ure D hly+ r BCG đã tích luỹ kháng nguyên của  vi khuẩn kháng acid trong tế bào chất. Và dòng vaccine mới có hiệu quả hơn nhiều so với dòng vaccine BCG chưa biến đổi trong việc bảo vệ chuột tránh khỏi sự xâm nhiễm của cả dòng M. tubeculosis trong phòng thí nghiệm và dòng M. turbeculosis mới được phân lập lâm sàng.

Although the enhanced protection offered by .ureC hly+ rBCG might be due to increased cytoplasmic antigen loading of MHC class I molecules, experiments conducted by Kaufmann and his team suggested an additional possibility. Previous work has shown mthat disruption of the phagosome induces programmed cell death in infected cells, which release apoptotic blebs with mycobacterial antigen cargo. Neighbouring dendritic cells take up these apoptotic blebs and channel antigens into the MHC class I pathway, with efficient activation of CD8+ T cells. It is this phenomenon, known as cross priming, that seems to be crucial for superior vaccine efficacy.

Mặc dù sự tăng cường khả năng bảo vệ do bởi ∆ure C hly+ r BCG có thể có được là do sự tăng lên của việc gắn các kháng nguyên trong tế bào chất lên các phân tử MHC lớp một, nhưng những thí nghiệm được thực hiện bởi Kaufmann và cộng sự đã đề nghị thêm một khả năng có thể xảy ra. Những thí nghiệm trứơc đó đã thể hiện rằng sự phá vỡ các phagosome sẽ gây nên sự chết theo chương trình của các tế bào bị xâm nhiễm, nơi giải phóng các túi nước apoptosis (apoptotic blebs) chứa kháng nguyên của vi khuẩn kháng acid. Các tế bào nhánh bên cạnh sẽ nhận những túi nước apoptosis (apoptotic bleds) và dẫn những kháng nguyên này vào con đường MHC lớp một với việc kích hoạt có hiệu quả tế bào T CD8+. Hiện tượng này, được biết tới như là sự kích hoạt chéo, dường như đóng vai trò quan trọng trong tính hiệu quả cao của vaccine.
 
P/S
Em quên mất mai em sẽ post lên bài :Bacteria fight or flight?
tạm dịch là Vi khuẩn tranh đấu hay trốn chạy?
(Hiện bài em đã dịch xong rồi nhưng chưa chỉnh sửa nên chưa post được)
 
Sự xâm nhiễm của Mycobacterium tubeculosis (vi khuẩn gây bệnh lao) là nguyên nhân hàng đầu gây chết người trên toàn thế giới bất chấp việcsử dụng vaccine bovis bacille calmette-Guerin (BCG) ?kháng Mycobaterium ?đã trở nên phổ biến. Mặc dù vacine BCG cung cấp sự bảo vệ ?chống lại sự gieo rắc bệnh lao phổi ở trẻ em, nhưng sự bảo vệ này bị giới hạn ở người lớn mà một phần là do sự kích hoạt kém hiệu quả của nó đối với các tế bào T của hệ miễn dịch.

Báo cáo trên tờ Journal of clinical Investigation, ?Stefan Kaufman và các đồng sự đã mô tả cách tạo ra dòng vaccine BCG thế hệ mới mang các protein có độc tính lấy từ Listeria monocytogenes. Các tác giả đã cung cấp các băng chứng cho thấy hiệu quả bảo vệ của loại vaccine này có ?sự tăng lên rất rõ rệt, đồng thời đề xuất một cơ chế để giải thích sự tăng lên này.

Cũng cần nhắc lại rằng sự bảo vệ chống lại M.tubeculosis cần đến hệ thống miễn dịch thông qua ?các tế bào T mang CD4+ và tế bào T mang CD8+ ở mức tối ưu, nhưng sự tạo ra các tế bào CD8+ là cả một vấn đề. Cả M .tubeculosis và BCG đều nằm trong phagosome của tế bào trình diện kháng nguyên - APC (chủ yếu là các đại thực bào và các tế bào nhánh khác), các tế bào APC này sẽ hướng những kháng nguyên kháng mycobacteria vào trong con đường MHC lớp hai. ?Do sự tương tác giữa những tế bào T mang CD4+ và các phân tử MHC lớp II diễn ra (trong trường hợp này ?tế bào T mang CD8+ thì không) nên mycobacteria xâm nhiễm sẽ bị cô lập trong phagosome từ đó sẽ giúp cho sự kích hoạt các phản ứng của tế bào TH (tế bào T hỗ trợ).

Để tạo nên sự cân bằng trong đáp ứng của tế bào T với sự xâm nhiễm của mycobacterial, Kaufman và các đồng sự tạo ra dòng vaccine BCG tái tổ hợp kích thích tạo ra listeriolysin, đây là một protein được các L.monocytogene sử dụng để khoan các lỗ trên màng của phagosome. Khi chức năng “khoan lỗ” của listeriolysin được tối ưu ở pH acid, gene BCG urease C ?mã hoá một enzyme làm trung tính hoá pH trong phagosome cũng bị loại đi. Các tác giả lý luận rằng sự phá vỡ phagosome bởi các listeriolysin sẽ đưa ?BCG vào trong tế bào chất, đồng thời sẽ kích hoạt tế bào T CD8+ thông qua con đường MHC lớp hai.

Thực vậy, các đại thực bào bị nhiễm dòng ∆ ure D hly+ r BCG đã tích luỹ kháng nguyên mycobacteria trong tế bào chất. Và dòng vaccine thế hệ mới có hiệu quả hơn nhiều so với dòng vaccine BCG chưa biến đổi trong việc bảo vệ chuột tránh khỏi sự xâm nhiễm của cả dòng M. tubeculosis trong phòng thí nghiệm và dòng M. turbeculosis mới được phân lập lâm sàng.

Mặc dù sự tăng cường khả năng bảo vệ do bởi ∆ure C hly+ r BCG có thể có được là do là do khả năng chuyên chở các kháng nguyên tế bào chất của phân tử MHC lớp 1 tăng lên, nhưng những thí nghiệm được thực hiện bởi Kaufmann và cộng sự đã đề nghị thêm một khả năng có thể xảy ra. Những thí nghiệm trứơc đó đã thể hiện rằng sự phá vỡ các phagosome sẽ gây nên sự chết theo chương trình của các tế bào bị xâm nhiễm, nơi giải phóng các túi nước apoptosis (apoptotic blebs) chứa kháng nguyên mycobacteria. Các tế bào nhánh bên cạnh sẽ nhận những túi nước apoptosis (apoptotic bleds) và dẫn những kháng nguyên này vào con đường MHC lớp một với việc kích hoạt có hiệu quả tế bào T CD8+. Hiện tượng này, được biết tới như là sự kích hoạt chéo, dường như đóng vai trò quan trọng trong tính hiệu quả cao của vaccine.


==========

Bài của em đã được sửa, em có thể coi lại bản gốc để thấy 1 vài điểm em cần khắc phục,. Nói chung em dịch càng ngày càng tốt. Chúc mừng em.
 
Hôm nay em post bài : Bacterial fight or flight?
Sau bài này có lẽ một tuần em sẽ dịch 1 đến hai bài do bắt đầu vào giai đoạn gay go trong học kì này rồi

Bacterial fight or flight?

Vi khuẩn "tranh đấu hay trốn chạy"?

Several previously unknown functions of the universal stress protein A (UspA) family in Escherichia coli have been revealed by a new functional genomic analysis recently published in the Journal of Bacteriology.

Nhiều chức năng chưa được biết đến trước đây của họ các protein A gây stress thông dụng (UspA) đã được hé mở bằng việc phân tích chức năng genome trong thời gian gần đây đã được đăng trên tạp chí vi khuẩn học (journal of bacteriology).

It had previously been observed that the E. coli UspA proteins undergo coordinated induction in response to various stresses, but there was little information on the functions of individual UspAs. There are six E. coli UspA proteins, and they can be divided into four classes based on structural motifs — three proteins (UspA, UspC and UspD) belong to class I, two to class II (UspF and UspG) and the sixth protein, UspE, belongs to both classes III and IV. Laurence Nachin, Ulf Nannmark and Thomas Nyström used this information to create a series of chromosomal deletion mutants designed to analyse the functions of members of each class.

Các quan sát trước đây trên vi khuẩn E. coli cho thấy các protein UspA chịu sự cảm ứng kết hợp trong việc đáp ứng với các phản ứng stress khác nhau, nhưng có quá ít thông tin về các chức năng của các protein UspA riêng lẻ. Có 6 loại protein UspA ở vi khuẩn Ecoli và chúng có thể phân chia thành bốn nhóm dựa trên mô hình cấu trúc: ba loại protein UspA ,UspC ,UspD được xếp vào lớp một; UspF và UspG được xếp vào lớp hai; và loại protein thứ sáu là UspE thuộc về cả lớp ba và lớp bốn. Laurence Lachin, Ulf Lannmark và Thomas Nistrom đã sử dụng những thông tin này tạo nên hàng loạt các đột biến mất đoạn nhiễm sắc thể để phân tích chức năng của các thành viên trong mỗi lớp protein này.

Analysis of growth in the presence of phenazine methosulphate revealed that two of the three class I proteins, UspA and UspD, are involved in defence against oxidative stress. In addition, the ∆uspD mutant showed the greatest sensitivity to the addition of streptonigrin, an antibiotic with iron-dependent activity, indicating a role for this class I protein in intracellular iron scavenging. Neither of these functions had previously been attributed to UspA proteins. A serendipitous observation revealed another previously unknown function — the authors noticed that the different mutant cultures had different flocculation profiles, with cell–cell aggregation greatly reduced in ∆uspC and ∆uspE cultures, indicating that these proteins might be involved in regulating adhesion capabilities.

Phân tích sự phát triển của vi khuẩn Ecoli khi vắng mặt phenazine mehtosulphat đã làm hé mở chức năng của hai trong ?ba ?loại protein lớp một (Usp A và Usp D), hai loại protein này có liên quan trong cơ chế bảo vệ chống lại phản ứng stress oxi hoá. Thêm vào đó, thể đột biến ∆uspD biểu hiện nhạy cảm lớn nhất khi mội trường có thêm vào streptonigrin, một chất kháng sinh với hoạt tính phụ thuộc vào sắt, từ đó cho thấy vai trò của protein lớp một này trong quá trình thu nhận sắt trong tế bào. Những chức năng này không được biết đến trước đó trong thuộc tính của protein UspA. Một quan sát tình cờ đã hé mở những chức năng chưa được biết đó - các tác giả chú ý thấy rằng các dịch nuôi cấy các thể đột biến khác nhau có sự kết cụm khác nhau, với sự kết tụ các tế bào giảm xuống rất nhiều ở dịch nuôi cấy chủng ∆uspC và ∆uspD, điều này cho thấy những protein này có thể có liên quan trong việc điều hoà khả năng bám dính.

The ability of the different mutant cultures to form fimbriae was then assessed using a yeast agglutination assay. Agglutination was enhanced in ∆uspC and ∆uspE cells and reduced in ∆uspF and ∆uspG cells. As adhesion and motility often show reciprocal regulation, motility was then examined in a swimming assay, and was found to be decreased in ∆uspC and ∆uspE mutants and increased in ∆uspF and ∆uspG mutants. Further analysis revealed that ∆uspC and ∆uspE cells lack flagella. Therefore, the authors note that, in addition to their other newly identified roles, UspA proteins are also involved in “reprogramming the cell towards defense and escape”.

Khả năng hình thành tua viền (khuẩn mao) ở các dịch nuôi cấy các thể đột biến khác nhau sau đó được đánh giá bằng một thử nghiệm ngưng kết nấm men. Sự ngưng kết được tăng cường ở các tế bào ∆uspC và ∆uspE và bị giảm đi ở các tế bào ∆uspF và ∆uspG. Sự bám dính và tính di động thường thể hiện tính điều hòa thuận nghịch, nên ?sau khi kiểm tra tính di động trong các thử nghiệm bơi, nhận ?thấy có sự giảm đi của tính di động trong các thể đột biến ∆uspC và ∆uspE và được tăng lên trong ∆uspF và ∆uspG. Những phân tích sâu hơn ?hé mở rằng ở các tế bào ∆uspC và ∆uspE thiếu vắng lông roi .Vì vậy các tác giả để ý rằng ?các tế bào đó có thêm các vai trò mới xác định khác ,những protein Usp A cũng có liên quan trong việc ?“tái lập chương trình nhằm bảo vệ và phóng thoát tế bào ”.

This study highlights the power of functional genomics and shows that the extensively studied model organism E. coli still holds some surprises. Contrary to expectation, the UspA proteins have distinct, as well as overlapping, functions, and some might be involved in controlling a bacterial version of the ‘fight or flight’ response.

Nghiên cứu này đã nêu bật sức mạnh của khoa học nghiên cứu về chức năng gene (functional genomics) và cho thấy việc mở rộng nghiên cứu mộ hình trên ở vi khuẩn Ecoli vẫn còn chứa đựng nhiều bất ngờ. Trái ngược với sự mong đợi, những protein UspA có những chức năng tách biệt, như trùng lấp, và một số chức năng khác có liên quan để có thể ?điều khiển vi khuẩn quyết định “đấu tranh hay trốn chạy”.
 
Nhiều chức năng chưa được biết đến trước đây của họ các protein A gây stress thông dụng (UspA) đã được hé mở bằng việc phân tích chức năng genome trong thời gian gần đây đã được đăng trên  tờ Journal of Bacteriology.

Các quan sát trước đây trên vi khuẩn E. coli cho thấy các protein UspA chịu sự cảm ứng kết hợp trong việc đáp ứng với các phản ứng stress khác nhau, nhưng có quá ít thông tin về các chức năng của các protein UspA riêng lẻ. Có 6 loại protein UspA ở vi khuẩn Ecoli và chúng có thể phân chia thành bốn nhóm dựa trên mô hình cấu trúc: ba loại protein UspA ,UspC ,UspD được xếp vào lớp một; UspF và UspG được xếp vào lớp hai; và loại protein thứ sáu là UspE thuộc về cả lớp ba và lớp bốn. Laurence Lachin, Ulf Lannmark và Thomas Nistrom đã sử dụng những thông tin này tạo nên hàng loạt các đột biến mất đoạn nhiễm sắc thể để phân tích chức năng của các thành viên trong mỗi lớp protein này.

Phân tích sự phát triển của vi khuẩn Ecoli khi có mặt phenazine mehtosulphat đã làm hé mở chức năng của hai trong  ba  loại protein lớp I (UspA và UspD), hai loại protein này có liên quan trong cơ chế bảo vệ chống lại stress oxi hoá. Thêm vào đó, thể đột biến ∆uspD biểu hiện nhạy cảm lớn nhất khi môi trường có streptonigrin, một chất kháng sinh với hoạt tính phụ thuộc vào sắt, từ đó cho thấy vai trò của protein lớp một này trong quá trình thu nhận sắt trong tế bào. Điều ngạc nhiên là những chức năng này hoàn toàn không được biết trước đó ở protein UspA. Một quan sát tình cờ đã hé mở những chức năng chưa được biết đó - các tác giả chú ý thấy rằng các dịch nuôi cấy các thể đột biến khác nhau có sự kết cụm khác nhau, với sự kết tụ các tế bào giảm xuống rất nhiều ở dịch nuôi cấy chủng ∆uspC và ∆uspD, điều này cho thấy những protein này có thể có liên quan trong việc điều hoà khả năng bám dính.


Khả năng hình thành tua viền (khuẩn mao) ở các dịch nuôi cấy các thể đột biến khác nhau sau đó được đánh giá bằng một thử nghiệm ngưng kết nấm men. Sự ngưng kết được tăng cường ở các tế bào ∆uspC và ∆uspE và bị giảm đi ở các tế bào ∆uspF và ∆uspG. Sự bám dính và tính di động thường thể hiện tính điều hòa thuận nghịch, nên  sau khi kiểm tra tính di động trong các thử nghiệm bơi,  các tác giả nhận  thấy có sự giảm đi của tính di động trong các thể đột biến ∆uspC và ∆uspE và được tăng lên trong ∆uspF và ∆uspG. Những phân tích sâu hơn  hé mở rằng ở các tế bào ∆uspC và ∆uspE thiếu vắng lông roi. Vì vậy các tác giả để ý rằng  ngoài những chức năng đã biết, protein UspA còn có thêm chức năng nữa đó là  protein Usp A cũng có liên quan trong việc  “tái lập chương trình nhằm giúp bảo vệ và đào tẩu tế bào ”.


Nghiên cứu này đã nêu bật sức mạnh của khoa học nghiên cứu về hệ gene chức năng (functional genomics) và cho thấy việc mở rộng nghiên cứu mộ hình trên ở vi khuẩn Ecoli vẫn còn chứa đựng nhiều bất ngờ. Trái ngược với sự mong đợi, những protein UspA có những chức năng tách biệt, cũng như  trùng lấp, và một số chức năng khác có liên quan để có thể  điều khiển vi khuẩn quyết định “đấu tranh hay trốn chạy”.


=========
Bài đã được sửa xong, có vài lỗi nhỏ.

Em tập trung lo học là chính, việc dịch bài chỉ làm như một thú vui vừa học vừa chơi. CHúc em thi cử tốt.
 

Facebook

Thống kê diễn đàn

Threads
11,653
Messages
71,558
Members
56,298
Latest member
elainewynn
Back
Top