protein tinh bột mới được phát hiện

#1
<TABLE><TBODY><TR><TD class=tintop_title vAlign=top align=left>Táo... "bác sĩ toàn khoa" phòng bệnh mất trí nhớ</TD></TR><TR><TD class=news_date vAlign=top align=left height=20>16:56' 19/02/2009 (GMT+7) </TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left>Các nhà nghiên cứu Mỹ khuyên những người cao tuổi nên uống 2 ly nước táo mỗi ngày để phòng chứng bệnh mất trí nhớ (alzheimer).

Uống hai ly nước táo mỗi ngày có thể giúp giảm sự tích tụ của protein tinh bột (amyloid protein), chất gây mất trí nhớ dần dần, từ đó giúp ngăn ngừa bệnh mất trí nhớ.

<TABLE class="image center" width=400 align=center><TBODY><TR><TD>
</TD></TR><TR><TD class=image_desc>Táo được gọi là "bác sĩ toàn khoa"</TD></TR></TBODY></TABLE>
Nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Massachusetts đã phát hiện thấy, một tháng sau khi uống nước táo đều đặn, lượng protein tinh bột - tích tụ ở đại não ở các bệnh nhân mất trí nhớ giảm rõ rệt.

Theo nhà khoa học Shea Thomas, sở dĩ nước táo đem lại hiệu quả kỳ diệu đối với việc ức chế bệnh mất trí nhớ là vì nó còn đẩy mạnh quá trình sản sinh acetylcholine (Ach), một chất truyền dẫn thần kinh, giúp tăng cường trí nhớ của con người.

Táo còn được gọi là "bác sĩ toàn khoa". Táo có hàm lượng đường, vitamin và nguyên tố vi lượng phong phú, đặc biệt là vitamin A và carotin.

Ngoài ra, táo cũng chứa nhiều pectin xơ thực vật hòa tan được trong nước và axít malic cũng như axít citric, giúp phòng chống mệt mỏi. Ăn táo còn có thể cải thiện hệ thống hô hấp, công năng của phổi, bảo vệ hai lá phổi khỏi sự tấn công của khói bụi.

Theo lời khuyên của các nhà khoa học, thì nên uống nước táo ép thay vì ăn táo. Nhưng tốt nhất hãy trộn nước táo với bã táo để uống cùng.

Bởi trong hỗn hợp nước táo và bã táo có hàm lượng polyphenol - một "cao thủ" trong việc ức chế tăng huyết áp và đề kháng u bướu - cao gấp 4 lần.

Theo TTXVN

</TD></TR></TBODY></TABLE>
 
wikipedia said:
The name amyloid comes from the early mistaken identification of the substance as starch (amylum in Latin), based on crude iodine-staining techniques. For a period, the scientific community debated whether or not amyloid deposits were fatty deposits or carbohydrate deposits until it was finally resolved that it was neither, but rather a deposition of proteinaceous mass.
Chả hiểu sao tự dưng lại nghĩ đến vụ bưởi gây ung thư với cả vụ mắm tôm có phẩy khuẩn tả 8-}
 
Thử nghiệm sử dụng liệu pháp gen để điều trị bệnh AIDS đã mang lại kết quả khả quan, cho thấy liệu pháp này vừa hiệu quả vừa an toàn. Thông tin do các nhà khoa học Đại học California (Mỹ) công bố trên tạp chí y học "Tự nhiên" của Anh.

Các nhà khoa học cho biết đây là giai đoạn thứ hai trong quá trình thử nghiệm ba giai đoạn có quy mô lớn nhất từ trước đến nay nhằm sử dụng liệu pháp gen ngăn chặn sự phát triển của virus làm suy giảm hệ miễn dịch (HIV) gây bệnh AIDS.

<TABLE class="image leftside" width=200 align=left><TBODY><TR><TD></TD></TR><TR><TD class=image_desc>Mô tả ảnh.</TD></TR></TBODY></TABLE>Thử nghiệm được tiến hành trên 74 bệnh nhân nhiễm HIV. Một nửa số này được cấy tế bào máu mầm chứa gen thử nghiệm, được gọi là nhóm OZ1. Nhóm còn lại được cấy chất giống tế bào máu mầm nhưng vô hại.

Các tế bào được cấy vào cơ thể người bệnh là những tế bào nguyên bản nhằm đảm bảo khi phân chia, các thế hệ tương lai sẽ mang mã gen giống các "tiền bối" của chúng.

Gen thử nghiệm đã mã hóa một enzim ARN, hay còn gọi là "ribozyme", một phân tử nhỏ có nhiệm vụ ngăn cản virus HIV sinh sôi khi chúng nhiễm vào tế bào. Mục đích của việc cấy gen thử nghiệm là nhằm xác định liệu các tế bào mới, với sự bảo vệ của "ribozyme", có sống sót được trong môi trường hệ miễn dịch suy giảm hay không, và liệu virus HIV, sau khi không còn cơ hội sinh sôi, có mất đi hay không.

Sau 48 tuần thử nghiệm không có sự khác biệt giữa nhóm OZ1 và nhóm còn lại. Nhưng đến tuần thứ 100 đã xuất hiện những dấu hiệu đáng khích lệ. Ở nhóm OZ1, lượng virus HIV giảm đáng kể trong khi lượng tế bào CD4, tế bào miễn dịch tăng lên.

Tuy nhiên, khối lượng các tế bào mới sản sinh bị virus HIV phá hủy khá nhiều và sau 4 tuần tế bào tái tạo, ở 94% bệnh nhân thuộc nhóm OZ1 đã xuất hiện tình trạng biến đổi gen, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 12% vào tuần thứ 48 và chỉ còn 7% vào tuần thứ 100.

Dù kết quả còn khiêm tốn, nhưng việc sử dụng liệu pháp gen điều trị bệnh AIDS đảm bảo an toàn và hiệu quả, đặc biệt không gây tác dụng phụ có hại cho sức khỏe. Các nhà khoa học hi vọng có thể phát triển liệu pháp này thành một phương thức điều trị bệnh AIDS thông dụng, thay thế việc điều trị cho bệnh nhân bằng thuốc kháng sinh.
 

Facebook

Top