Gen của người Do Thái

Lanh lẹ, hoạt bát, nổ giỏi. Đó là đặc điểm của người thích chém gió, thích bị sai vặt bạn ạ.
Im lặng, ít nói, nghĩ nhiều. Đó là đặc điểm của người giỏi làm khoa học, kinh doanh, hai lĩnh vực duy nhất mà người Do Thái thành công hơn các chủng tộc khác.
Cho nên chẳng qua vì ta sống trong thế giới trọng người làm khoa học, làm kinh doanh nên mới nể Do Thái thôi. Nếu lấy tiêu chuẩn lanh lẹ, hoạt bát chém gió giỏi thì VN sẽ được mọi người ngưỡng mộ.
 
Người Do Thái Đoạt Giải Nobel Tiết Lộ Bí Mật Dân Tộc : Kinh Thánh Là Chìa Khóa Cho Thiên Tài Người Do Thái

Sau khi hai giáo sư người Do Thái sống ở Mỹ đoạt giải Nobel Hóa học năm nay, nó đặt ra câu hỏi: Tại sao người Do Thái đã rất thành công trong lĩnh vực này, mặc dù dân số theo tỷ lệ nhỏ của họ?

Khoảng 20% hoặc 1 trong 5 người đoạt giải Nobel là người Do Thái, nhưng người Do Thái chỉ chiếm chưa đầy 0,2% dân số thế giới.
Một giả thuyết phổ biến trong một bài luận một vài năm trước đây gọi là Thiên Tài người Do Thái của tác giả Charles Murray, người tạo ra ý tưởng về siêu gen. Ông viết rằng "một cái gì đó trong gen giải thích chỉ số IQ rất cao của người Do Thái ."

Nhưng một lý thuyết mới đã nổi lên của Robert Aumann, một người Do Thái đoạt giải Nobel Kinh tế (Lý thuyết trò chơi) vào năm 2005. Ông cho rằng điều tạo ra các thiên tài người Do Thái là do truyền thống đọc sách nói chung và cụ thể là học Kinh Thánh Do Thái (Kinh Ngũ Thư bao gồm Sách Sáng thế, Sách Xuất hành, Sách Lêvi, Sách Dân số và Sách Đệ nhị luật).

"Học sách Kinh Thánh Do Thái là một sự theo đuổi tri thức, và tôn vinh giá trị này cuối cùng để theo đuổi các mục đích khác," Aumann đã nói với Đài phát thanh quân đội Do Thái. "Ngôi nhà của người Do Thái có đầy đủ sách, còn những ngôi nhà khác có thể hoặc không thể có. Nhà của người Do Thái bị tràn lan ngập đầy những cuốn sách. Trong suốt các thế hệ chúng ta đã vinh dự để theo đuổi trí tuệ này ... Học sách Kinh Thánh Do Thái làm cho đất nước và con người đạt được chất lượng tốt nhất và cao nhất. "

Sau tất cả những điều này, người Do Thái là Dân Tộc Của Sách (Sách Kinh Thánh)

Dịch từ bài báo
israeltoday.co.il/NewsItem/tabid/178/nid/24286/Default.aspx

Phải chăng đây là cách giáo dục trẻ em theo phương pháp Kinh Thánh của người Do Thái ?
+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.
 
Vấn đề người Do thái thông minh thì không cần phải bàn cãi. Khắp mọi nơi trên thế giới, ai ai cũng đều nói rằng người Do thái thông minh.

Nhưng chẳng phải chỉ nói mà thôi. Sau đây là những sự kiện:

Dân số thế giới hiện nay vào khoảng hơn 7 tỷ người, dân Do thái và gốc Do thái ngày nay tại quốc gia Do Thái chừng 6,5 triệu, tại Mỹ gần 6 triệu, cộng với tất cả các nước khác trên thế giới lại thành gần 20 triệu, như vậy tỷ lệ 0.28%. Nói cho chẵn, thì cứ 1000 người sống trong thế gian, thì sẽ chỉ có 3 người là người Do thái.

Thế mà chưa đầy năm mươi năm trước, năm 1978, một nữa tổng số các giải Nobel đã về tay người Do thái, nghĩa là 50%. Chỉ có 0.28% kia mà lại chiếm đến 50% giải của cả nhân loại, thì cũng đủ thấy rõ.

Về chỉ số IQ, tức là chỉ số thông minh cũng vậy. Theo sự khảo sát gần đây, nếu chỉ số thông minh IQ trung bình của thế giới là 100, thì IQ của người Do thái gần đến 118. Người ta cũng nói rằng nếu chỉ số thông minh IQ tối thiểu cho một thiên tài là 140, thì trong nhân loại trung bình cứ 1000 có được 4 người, còn với người Do thái, cứ 1000 người, có được suýt soát 29 người.

Không nói đến những người đã chết, số những người Do thái nổi tiếng ngày nay, hiện còn sống, cũng nhiều vô kể. Mọi lãnh vực từ khoa học, kỹ thuật, chánh trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục, y học, triết học, văn học, mỹ thuật, kịch nghệ, âm nhạc, ... đều có những nhân vật đầu bảng. Chỉ nói riêng phương diện tin học thì cũng đã có hai nhân vật mà mỗi bạn trẻ đều biết: Người sáng lập ra công cụ tìm kiếm Google, Sergey Brin, và người sáng lập ra mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg, cũng đều là người Do thái….

Nhưng nhờ đâu mà người Do thái thông minh đến dữ dội như vậy?

Từ thời thượng cổ, người Hy lạp đã tin rằng người càng thông minh, bộ não càng lớn. Các nhà thần kinh học ngày nay cũng tin rằng khối lượng não bộ của một người có liên quan trực tiếp đến sự thông minh của người ấy.

Khi Albert Einstein chết, thân thể ông hỏa táng. Nhưng ông đã đồng ý hiến tặng bộ não của ông cho các nhà khoa học. Người ta đã giải phẩu và thấy rằng thùy đỉnh của não bô ông lớn hơn mức bình thường là 15%.

Nhưng làm thế nào để não bộ được lớn? Cách đây ba tháng, khi tôi trải qua giải phẩu ở chân, ba ngày sau các sĩ ra lệnh phải tập đi. Họ nói: “Trong cơ thể của chúng ta, cái gì càng năng vận dụng thì sẽ càng phát triển, và trở nên mạnh mẽ. Cái gì không sử dụng thì sẽ teo lại và mất khả năng.

Người Do thái đã vận dụng và phát triển não bộ của họ bằng cách nào? Bằng cách học thuộc lòng Kinh Thánh. Trẻ con Do thái từ khi mới sinh ra, đã được cha mẹ dạy để học thuộc Kinh Thánh. Sau đó các em được đưa đến Nhà hội, và tại đây cách học Kinh Thánh của Nhà hội vẫn là học thuộc lòng. Như chúng ta có thể thấy, do đó, Đức Giê Su và các sứ đồ, và thậm chí thầy thông giáo và người Pha ri sêu, đi đâu thì không cần phải vác theo các cuộn Kinh Thánh bằng giấy da rất nặng nề. Họ đã thuộc lòng Kinh Thánh.

Nhưng có người sẽ hỏi: Einstein và nhiều ngươì Do thái ngày nay đâu có còn học thuộc Kinh Thánh, vậy sao họ vẫn thông minh? Đúng vậy, nhưng não bộ của ngươì Do thái đã được phát triển không phải chỉ qua một ngày. Trong tiến trình vận dụng trí nhớ để học thuộc Kinh Thánh trải qua hàng mấy ngàn năm, mỗi ngày một chút, não bộ của người Do thái đã phát triển thêm và lưu truyền lại.

Lại cũng có người nói: Áp ra ham gốc là người Lưỡng hà (IRAQ ngày nay) , mà người Lưỡng hà vốn dĩ thông minh. Chính họ, cách đây hơn 4000 năm đã biết sử dụng chữ viết. Có lẽ Áp ra ham cũng thuộc dòng thông minh, nhưng cần nhớ rằng dòng dõi của ông không phải chỉ có người Do thái, mà còn người Ả rập. Sự thông minh của ngươì Ả rập so với sự thông minh của nhân loại cũng bình thường thôi.

Chỉ có riêng người Do thái là đặc biệt thông minh, thông minh xuất sắc. Sỡ dĩ họ thông minh như vậy vì tổ tiên của họ đã có thói quen vận dụng trí não để học thuộc Kinh Thánh, và sự thông minh đó đã được di truyền lại.

Bên cạnh đó, đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự vận dụng trí não cũng sẽ giúp cho các nơron thần kinh hoạt động mạnh mẽ, và trí não được trẻ trung dâu dài.
 
Last edited:
Người Do Thái ăn uống cực kỳ sạch sẽ

+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.


Người Do Thái Ăn Gì Để Tăng Trí Thông Minh ?
Kô Sơ, luật lệ ăn uống cho người Do Thái chính cống.

Không có ở đâu trên thế giới, ngay cả ở tại Giêrusalem thủ đô của người Do thái , sống tập hợp nhiều người Do Thái chính cống, là những người theo đạo Do thái chính thống như ở Nữu Ước.
Tổng cộng có khoảng 10 đến 15% số người dân Do thái trên toàn thế giới theo đạo chính thống này.
Chính thống có các nghĩa là làm đúng theo lời dạy của Thiên Chúa.

Đạo Công Giáo cũng có loại sùng đạo gọi là Chính Thống Giáo.
(Liên xô , Hy lạp 98% dân số theo đạo Chính Thống Giáo, Bun-ga-ri 84% dân số; Rumani 70%)

Đứng trên quan điểm khách quan mà suy xét tôi nhận thấy người Do thái đa số họ rất thông minh, rất nhiều người thành công trên lảnh vực khoa học, y học, kỷ thuật, nghệ thuật, phát minh, sáng kiến, thương mại như Albert Einstein, *Sigmund Freud, *Marie Curie, Michael Dell, Levi Strauss, Alan Greenspan, Zino Davidoff, *Marcel Tolkowsky, Giacomo Meyerbeer (nhà soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc, nổi tiếng thế kỷ 18), Frank Kafka văn hào Do thái Tiệp-Áo-Hung; Jakob Ludwig Felix Mendelssohn Bartholdy (nhà soạn nhạc, điều khiển dàn nhạc, nghệ sĩ đàn dương cầm, đàn đại phong cầm nổi danh thế kỷ 19); Leonard Bernstein, Bob Dylan, Marc Chagall, *Friedensreich Hundertwasser, *"Warner Brothers", *John Jacob Bausch, Charles Spencer Chaplin, Steven Spielberg; Harrison Ford (cha người Ái nhĩ Lan, mẹ Liên xô gốc Do thái); Jane Seymour (mẹ gốc Hòa lan, cha Do thái Anh quốc); Lorne Greene đóng vai Ben Cartwright trong phim cao bồi Bonanza (cha/mẹ Do thái đông Âu); Woody Allen; Roman Polanski (mẹ gốc Liên xô, cha Do thái Ba lan); Paul Newman (mẹ người Tiệp, cha Do thái); Kirk Douglas (cha/mẹ Do thái Liên xô); Garry Kasparov (hạng nhứt thế giới cờ vua 1985-1993 cha người Do thái Armenia, mẹ người Armenia vùng bị Liên xô chiếm đóng); Michel de Nostredame (dược sĩ, thiên văn học, tiên tri Nostradamus, người Do thái Pháp), v.v.

*Sigmund Freud (Sigismund Schlomo Freud): nhà tâm lý học người Do thái sống tại Áo.
*Marie Curie (Maria Salomea Sklodowska): gốc Do thái Ba lan, cha là người Do thái.
*Marcel Tolkowsky: nhà toán học người Bỉ, phát minh kiểu cắt hột xoàn "brilliant cut".
*Friedensreich Hundertwasser (Friedrich Stowasser): Do thái sống ở Áo, có rất nhiều tài năng, là họa sĩ, kiến trúc sư nổi danh, biết 7 ngoại ngữ, đạo diễn phim,...
*Warner Brothers (Jack, Samuel, Harold, Albert Eichelbaum): hảng phim "Warner Brothers , Inc."
*John Jacob Bausch người Do thái sanh tại Đức, di cư sang Mỹ. Sáng chế mắt kiếng mát hiệu "Ray Ban" đặc biệt cho phi công.

Trung Úy phi công Mỹ John MacCready bị nắng rọi vào mắt làm cho mắt ông ta bị đau, ông ta đến tiệm nhờ Bausch làm mắt kiếng để bảo vệ mắt, Bausch đã sáng chế ra loại mắt kiếng mát lọc tia cực tím để bảo vệ cho mắt vào năm 1937. Bausch mượn tiền của Henry Lomb để mở rộng cửa hàng bán mắt kiếng Bausch and Lomb ở Rochester, New York. Mắt kiếng được nổi tiếng khi tướng Mỹ Douglas MacArthur đeo và chụp hình trên bãi biển Philippine vào đệ II thế chiến. Cho tới ngày nay, mắt kiếng mát này được phi công ưa chuộng dưới tên hiệu "Ray-Ban Aviator" hoặc kiểu mẩu "Ray-Ban Wayfarer nomad", "Ray-Ban Cockpit" cũng được nhiều người ưa thích và nổi danh qua các tài tử như trong phim "Eat, Pray, Love" nữ tài tử Julia Roberts đeo Ray Ban Aviator 3025, "Blues Brothers" (Ray Ban Wayfarer RB2140), "Love and other Drugs" (Jake Gyllenhaal đeo Ray Ban Wayfarer2140); "Miami vice" (Ray Ban Wayfarer I), "Risky Business" v "Top Gun" (Tom Cruise đeo Ray Ban Wayfarer 2140); "Reservoir dogs" (Ray Ban Clubmaster 3016), "Death Proof" (Ray Ban Sidestreet RB 4071 601/71) hoặc "Mr. and Mrs Smith" với Angelina Jolie đeo Ray Ban Aviator.

Khoảng 22% tổng số toàn thể những người đoạt giải Nobel từ năm 1901 đến nay về Y khoa, Vật lý, Hóa học, Khoa học/Kinh tế, Văn học, giải Nobel Hòa bình thế giới, là người có nguồn gốc Do thái. Click vào để xem danh sách.

Tôi nghĩ, thức ăn thức uống là một trong những yếu tố quan trọng nhứt để đem lại sức khỏe cũng như là mầm mống của bịnh hoạn cho con người.

Một người Do thái Chính Cống từ nhỏ tới lớn sống và ăn uống theo luật lệ "Kô Sơ" của Do thái đạo chính thống, có lần anh ta trả lời khi tôi hỏi:

"Sao anh lại chọn cách ăn uống theo luật lệ phức tạp này?"

Anh nói:

"Ăn những thứ không phải Kô Sơ sẽ làm cho trí óc và trái tim của con người dần dần ngu si đần độn đi (dumbing down)!"

Tôi đã tìm hiểu về lối ăn uống Kô Sơ của họ, và đây là nội dung:

Kô Sơ có nghĩa là gì?

Từ tiếng Do thái Kát Rụt có nghĩa: hoàn mỹ, "theo lễ nghi của đạo không có vấn đề gì".

Vì sao lại có luật ăn uống Kô Sơ?

Kể từ năm 70 sau công nguyên (sau khi Jesus sanh ra đời) Do thái đánh thua quân La mã, tất cả tiêu tan, người dân Do thái phải tứ tán khắp nơi, sống cuộc đời du mục bất đắc dĩ vì họ không còn đất nước, không có trung tâm để hành đạo.

Theo sách kinh, 600 000 người Do thái được phép rời khỏi cuộc đời nô lệ trên đất Ai cập* và đi lang thang trong sa mạc 40 năm "Sách xuất hành", đi tìm miền đất hứa.

* Sau 430 năm, nô lệ Do thái được phép của Pha-ra-ông rời khỏi Ai cập sau khi nước này bị 10 tai họa:

1/ Nước sông biến thành máu, trong 7 ngày không thể dùng được.
2/ Ếch nhái tràn lan bao trùm đất Ai cập.
3/ Muổi nhiều như bảo cát, là nguồn tai họa cho người và thú.
4/ Ruồi rất nhiều ở khắp mọi nhà, mọi nơi.
5/ Bịnh dịch hạch (thú) giết ngựa, bò, lạc đà, cừu.
6/ Loét mọng nước (trái rạ) truyền nhiễm cho người và thú.
7/ Mưa đá giết người và thú, tiêu diệt mùa màng, cây cỏ.
8/ Cào cào, châu chấu bao phủ mặt đất và ăn hết tất cả thực vật.
9/ Nhật thực ba ngày liên tiếp.
10/ Đứa con đầu lòng, con thú đầu lòng trên đất Ai cập sẽ bị chết.

Để phòng ngừa bịnh hoạn và sau đó đã trở thành một quy luật cột trụ để tồn tại và sống còn, họ đã đặt ra quy luật ăn uống Kô Sơ này và đó đã thành một nghi thức ăn uống cho tất cả những người đạo Do thái chính thống trên toàn thế giới cho dù họ sống bất kỳ nơi đâu, bất kỳ họ nói những ngôn ngữ khác nhau nhưng truyền thống ăn uống theo Kô Sơ từ bao nhiêu thế kỷ thì vẫn là như vậy.

Đặc điểm chính, quy tắc ăn uống theo Kô Sơ là:

1- Phân biệt giữa thịt con thú nào được phép ăn, con nào không được ăn.
2- Chỉ được ăn vùng (phân nữa) phía trước của con thú, thí dụ: con bò chỉ được ăn phần thịt bả vai ; sường ức / nạm ; thịt cơ hoành / bụng trước / nạm / gầu (short plate).
3- Không được ăn, uống máu động vật.
4- Thức ăn thịt và thức ăn sữa phải riêng biệt ra, không dùng chung chạm nhau, thậm chí muổng nĩa, nồi chảo để nấu nướng hai thứ này phải riêng biệt, cả khi rửa chén dĩa cũng phải tách ra hai bồn.
5- Những thức ăn trung tính.

1/ Theo quy luật Kô Sơ thì người Do Thái Chính Cống chỉ được phép ăn những con thú có móng guốc chẻ và đồng thời phải là động vật ăn cỏ và nhai lại.

Thí dụ những con thú ăn được:
Con bò, con dê, cừu có móng chẻ và nhai lại.
Cá thì phải loại có vảy và vây cá.
Loài có cánh: gà, vịt, ngỗng, gà lôi, bồ câu.
Thí dụ những con thú bị cấm không được phép ăn:
Con heo tuy có móng chẻ những không nhai lại.
Con ngựa, con Lạc đà không có móng chẻ.
Con lươn, cá ngát (eeltail catfish), cá trê, cá ông, cá heo, cá mập, sói biển (seawolf), cá bơn (turbot), cá tầm (sturgeon) không có vảy. Trứng cá caviar của cá tầm cũng không Kô Sơ.
Con tôm, tôm hùm, tép, tất cả loại nghêu sò ốc hến, ếch, nhái, con mực, con rùa.
Tất cả các loại bò sát như rắn, và những con côn trùng, sâu bọ.
Tất cả các loài chim săn và ăn thịt như diều hâu, chim ưng.

2/ Phần thịt phía sau của con thú, không được ăn. Thí dụ con bò không ăn: thăn trên (short loin); thịt bụng (flank); thăn ngoài (sirloin); mông (round).


3/ Khi ăn thịt phải ăn loại thịt thọc huyết

*Sê Chi Ta để máu chảy ra hết (càng ít máu trong thịt càng tốt), trước khi nấu phải ngâm nước 30 phút.

Sau đó chà muối và rửa để giảm máu trong thịt tới mức tối thiểu.
Họ cho là trong máu chứa đựng linh hồn của con thú.
Nếu ăn uống máu sẽ làm cho người đó hiếu chiến, nóng nảy và dữ dằn lên.

Không ăn thịt thú vật sống trên cạn và cá chung trên cùng một phần ăn. Sau khi ăn thịt xong phải rửa dĩa, muỗng, nĩa và phải súc miệng kỹ rồi mới được ăn cá (và ngược lại cũng vậy).

4/ Sữa và phó mát của những con thú Kô Sơ (bò, dê, cừu) mới ăn uống được. Sau khi ăn thịt phải một thời gian lâu sau (thông thường là 6 tiếng) mới được phép dùng thực phẩm sữa, nhưng ngược lại dùng thức ăn có sữa thì thời gian ngắn hơn (khoảng 30 phút) có thể dùng thịt vì sữa tiêu hóa nhanh hơn thịt. Thời gian ăn uống giữa hai loại thực phẩm thịt và sữa theo truyền thống từng nơi dài ngắn khác nhau.

5/ Những thức ăn trung tính như trái cây, nước trái cây, rau cải, ngũ cốc, trứng gà vịt, cá và*mật ong, rượu vang, trà, café.

*mật ong: tuy con ong là loài côn trùng không Kô Sơ, nhưng mật ong lại là thực phẩm được phép ăn.

Trái của cây chưa qua 3 tuổi không được ăn, cũng không được ép nước uống hoặc làm thực phẩm để ăn.

Ở tại Nữu Ước có rất nhiều tiệm bán thực phẩm cũng như nhà hàng ăn uống theo Kô Sơ.
Người nấu thức ăn Kô Sơ trong nhà hàng Kô Sơ bắt buộc phải là người Do thái theo đạo chính thống.
Thực phẩm ở siêu thị thường có dấu ấn chứng nhận của chữ U trong một vòng tròn.

Trái cây cũng được kiểm soát để không có sâu bọ hoặc trứng sâu bên trong, trứng gà vịt không được có trống và có máu.
Khi đi du lịch hoặc đi làm ăn ở các nước khác trong thời gian ngắn, nơi mà không có hoặc ít tiệm ăn Kô Sơ, những người theo đạo chính thống này thay vì đem theo quần áo, họ thường chỉ mặc một bộ đồ trên người và thay thế vào hành trang/hành lý của họ là thực phẩm cũng như muỗng nĩa Kô Sơ riêng biệt.

*Sê Chi Ta là cách thọc huyết thú vật đặc biệt của người Do thái, họ phải học nhiều năm mới được công nhận. Thịt thú Kô Sơ phải qua một cơ quan giám sát, chứng nhận và đóng tem.
Người Do thái quan niệm rằng, sự sống của mỗi sinh vật đều quý giá, vì vậy cho nên lấy đi sự sống, giết con vật là một chuyện rất linh thiêng nên cần phải làm cho chúng ít đau đớn càng ít càng tốt. Con dao của người thọc huyết Kô Sơ chuyên nghiệp cực kỳ bén, bén như lưỡi lam. Ai đã từng bị lưỡi lam sắc bén cắt sẽ có thể cảm nhận được khi mới bị cắt sẽ không thấy đau, chỉ khi nào dùng cồn sát trùng vết thương mới thấy rát. Khi họ thọc huyết, với chỉ một nhát họ cắt đứt 2 động mạch chính ở cổ của con thú, cắt đứt ống thở khí quản cũng như ống thực quản, và 2 hệ thần kinh chính. Con thú sẽ chết trong vòng 3 đến 4 giây so với cách giết thông thường con thú chết sau nhiều phút. Sau khi cắt cổ xong họ sẽ để cho máu chảy ra đến mức còn tối thiểu máu trong thân thể con thú. Các bộ đồ lòng của con thú sẽ được trải qua một cuộc khám xét kỹ lưỡng, những con bị ung thư hoặc có những bộ phận dị lạ sẽ không được coi là thịt Kô Sơ nữa.
 
Vì sao người Do Thái Thông Minh Khôn Ngoan Sáng Suốt Trí Tuệ ?

+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.


Dịch từ một trang blog của một tác giả kỹ sư điện tử người Do Thái
absolutetruth613.blogspot.com/2012/05/why-are-jews-so-intelligent.html

Tác giả là một Kỹ Sư Điện Tử đã nghỉ hưu với 58 năm nghiên cứu Khoa Học.
Tác giả đã học dưới mái trường Đại Học trong 16 năm để nghiên cứu các ngành công nghệ kỹ sư, khoa học tổng hợp, Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Kinh Doanh, và các ngành học lãnh vực liên quan.
Tác giả cũng là một Sĩ Quan Quân Đội Hoa Kỳ đã từng sống ở ba lục địa, đã từng sống ở 20 quốc gia và 39 tiểu bang của nước Mỹ.
Tác giả đang học ngoại ngữ thứ năm, tác giả có hai quốc tịch là Mỹ và Do Thái. Tác giả đã học Kinh Thánh trong suốt 68 năm.

Đã bao giờ bạn ngạc nhiên khi người Do Thái có nhiều giải Nobel chênh lệch với tổng dân số nhỏ bé của họ ?
Vì sao có nhiều bác sĩ người Do Thái, luật sư người Do Thái, nhà khoa học người Do Thái, kỹ sư người Do Thái ?
Có một nguyên nhân rất chính đáng nhưng không quá rõ ràng.

Người Do Thái còn được biết đến với tên gọi khác là Dân tộc của Sách.
Đã hàng ngàn năm trôi qua người Do Thái đã học một cuộn sách phức tạp nhất, đó chính là Kinh Thánh.

Tôi kể một câu chuyện cho các bạn nghe để làm ví dụ cho điểm nhấn của tôi.
Khi gia đình tôi lập tức thực hành tôn giáo, con trai 18 tuổi của tôi là sinh viên Đại Học.
Cậu bé gặp tôi và hỏi rằng là cậu bé có được phép bỏ học Đại Học để đi học ở Chủng viện Do Thái ( trường học đặc biệt chỉ dành riêng cho người Do Thái ).
Tôi đã rất tự hào vì cảm giác hướng tới Thiên Chúa và đạo Do Thái Giáo của cậu bé, và tôi đã ngay lập tức đồng ý - tôi gửi cậu bé vào một trường Chủng viện Do Thái ở Giê ru sa lem - đó là một trải nghiệm thực tế đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời của con trai tôi và ngay cả chính bản thân tôi ( tôi đã đến thăm cậu bé và khám phá ra rằng quốc gia Do Thái chính là ngôi nhà thật sự của tôi).
Cảm ơn, Thiên Chúa.
Trẻ em rất là hạnh phúc với niềm vui của cuộc sống.
Chúng tôi đã liều lĩnh tạo ra sự thay đổi táo bạo này mặc dù cậu bé chỉ thiếu 4 điểm tín chỉ đại học để hoàn thành bằng cấp Đại Học.
( Trong hệ thống Đại Học ở Mỹ, hoàn thành mỗi lớp học thì sinh viên sẽ có điểm tín chỉ đại học, tùy theo độ khó của mỗi lớp mà số điểm tín chỉ đại học của các lớp khác nhau, lớp càng khó thì điểm tín chỉ đại học càng cao ).
Sau một năm ở Chủng viện Do Thái, tôi điều tra sự khả thi để nhận được tín chỉ đại học cho việc học ở Chủng viện Do Thái của cậu bé.
Có một tổ chức ở Nữu Ước sẽ đánh giá và công nhận các tín chỉ học hành.
Các trường học Chủng viện Do Thái đã quen thuộc với việc này và xây dựng một bảng điểm cho những nỗ lực của con trai tôi qua năm tháng.
Chủng viện Do Thái cho cậu bé 18 điểm tín chỉ đại học qua các môn học như giáo dục tổng hợp, triết học, lịch sử, và ngôn ngữ. Khi trình bày cho tổ chức kiểm định chất lượng, vượt quá 4 điểm tín chỉ đại học mà cậu bé cần để vào các trường Đại Học khác, họ cho cậu bé 36 điểm tín chỉ đại học. Họ cũng nói với chúng tôi biết các điểm tín chỉ đại học cần thiết để được chấp nhận ở Đại học Harvard, Đại học Yale, Đại học Pennsylvania và Đại học Do Thái.
Họ giải thích với chúng tôi rằng họ là hoàn toàn nhận thức được cường độ học tập kịch liệt xảy ra tại các Chủng viện Do Thái.
Họ cũng đã nhận thức được sự tận tâm và sẵn sàng học hỏi mà các học sinh ở Chủng viện Do Thái có.
Có lẽ không có bất cứ trường đại học nào trên thế giới có cường độ học hành kịch liệt chuyên sâu hơn một Chủng viện Do Thái.
Tôi đã học đại học tất cả thời gian và bán thời gian trong 16 năm bao gồm các nghiên cứu sau đại học.
Tôi chưa bao giờ thấy mức độ của lòng sùng mộ đối việc học hành như tôi đã trải qua trong các Chủng viện Do Thái mà tôi đã tham gia.
Bằng cách này, con trai tôi được chứng nhận bằng cấp của cậu bé.

Có những nghiên cứu về trí thông minh của người Do Thái và đã cho ra những kết quả rất đáng ngạc nhiên.
Họ lập luận một cách thuyết phục rằng "trí thông minh siêu cao của người Do Thái là có căn cứ về di truyền học" hơn là yếu tố môi trường.
Mặc dù việc học hành ở các Chủng viện Do Thái rất là dữ dội và ngay cả học những môn học mở rộng khác - cả yếu tố như nhà của người Do Thái có rất nhiều sách (tự học ở nhà), họ kết luận rằng trí thông minh của người Do Thái chủ yếu là do sự thừa hưởng của gien di truyền.
Người Do thái, đặc biệt là người Do Thái Nhật Nhĩ Man sinh sống ở miền Trung và Tây Âu, đã thực hành việc chọn giống trong nhiều thế kỷ thường liên quan đến giao phối có chọn lọc và kết hợp gien để sản xuất những trẻ em có trí thông minh cao siêu.


Kinh Thánh Do Thái Luật Nói, Pesachim 49a ghi rằng
Một người đàn ông nên bán tất cả tài sản gia tài để cho con trai của ông cưới được con gái của một nhà bác học thông thái ( scholar trong tiếng Anh nghĩa là nhà bác học, nhà thông thái, học giả ).
Vào thời trung cổ trong cộng đồng Do Thái, những người đàn ông thông minh nhất trở thành Thầy Đạo,
và những người đàn ông có địa vị cao trong xã hội được kết hôn với con gái của những nhà thương gia thành công,
người Do Thái chọn những người có trí thông minh xuất chúng.
Phụ nữ người Do Thái đã trở thành những cô giáo dạy dỗ con cái ở nhà ( giáo dục tại nhà )
và đảm bảo chắc chắn rằng con cái trẻ em của họ được giáo dục đúng cách, và trẻ em có khả năng tự học.


Vào thời gian đó, những người Kitô hữu thì lại làm điều ngược lại:
các linh mục, thầy tu, tu sĩ, nữ tu ma sơ của giáo hội Công Giáo La Mã, là những người thông minh nhất, sáng suốt nhất trong cộng đồng của họ, đã bị cấm kết hôn, do đó họ bắt buột những người có gien thông minh phải chấp hành cuộc sống độc thân.
Vì vậy những nguồn gien thông minh bị loại bỏ.

Hầu hết các quốc gia mà người Do Thái di cư đến, những dân tộc đã may mắn sở hữu được sự thông minh và khéo léo của người Do Thái, nhưng họ rất sợ hãi khi đưa công việc cho người Do Thái làm.
Vì họ rất sợ sự thống trị và chiếm hữu tất cả các doanh nghiệp của người Do Thái.
Cũng chính là những người ngăn chặn người Do Thái đạt được sự thành công trong kinh doanh và con đường học vấn, đã giúp trau dồi sự hiểu biết trong kinh doanh của Người Do Thái.
Vì sao ? Người Do Thái luôn tự bơi và bị cưỡng bức, bị loại bỏ những nhu cầu cần thiết và sống còn, đã phát triển trí thông minh theo cách khác biệt của người Do Thái.
Người Do Thái tự tạo việc làm, tự học và, trong nhiều trường hợp, tạo ra những Tỉnh Tự Trị
( người Do Thái tạo ra những "quốc gia nhỏ" không phụ thuộc vào chính quyền nước sở tại ).
Những nhu cầu cần thiết là Mẹ của Sự Sáng Tạo" một câu nói diễn tả lịch sử của người Do Thái.


Kể từ khi tôi phân tích những sự thật tuyệt đối, tôi đã bất cẩn quên nói tới ý muốn của Thiên Chúa.
Người Do Thái bây giờ, và trải qua các giai đoạn lịch sử, đã được thiết kế và lập trình để hoàn thánh ý muốn của Thiên Chúa.
Sự thông minh của dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn là điều hoàn toàn cần thiết để mang thông điệp của Thiên Chúa đến tới thế giới.
Việc sửa chữa thế giới phụ thuộc vào người được giao sứ mạng để hoàn thành hiện thực.
Các stereotype, sự ghét người Do Thái, những vụ tấn công vào người Do Thái, tất cả những điều đó đều là kết quả của sự thất bại, tuyệt vọng, lòng ganh tị của dân ngoại.
Đó cũng chính là thông điệp của Thiên Chúa đã nói rằng khi Gia-cóp học hành Kinh Thánh Do Thái, Ê Sau không thể nào chạm vào người Gia-cóp.
Một thông điệp mạnh mẽ gửi tới người Do Thái trong suốt lịch sử để chu toàn bổn phận của người Do Thái là học Kinh Thánh Do Thái, và không được phép bị đồng hóa trong xã hội của người dân ngoại ( các dân tộc khác ).
Thiên Chúa có mục đích để làm cho cuộc sống của một người Do Thái trở nên rất khó khăn khi một người Do Thái đã muốn được hòa tan ( bị đồng hóa ) trong thế giới của dân ngoại.
Người Do Thái đã được mời và được chào đón đến nhiều quốc gia miễn là người Do Thái sống cách biệt khỏi người dân địa phương.
Khi người Do Thái nói "Tôi thích cách ăn mặc của họ, tôi thích thức ăn của họ, tôi thích công việc của họ, tôi muốn giáo dục thế tục của họ."
Thiên Chúa đã làm cho những người dân bản xứ ở quốc gia mà người Do Thái đang sinh sống,
Thiên Chúa đã làm cho những người bản xứ chống lại người Do Thái.
Tôi đã từng sống ở quốc gia Đức trong 6 năm, ich habe viel Deutsch gelernt,
tôi nhớ một bài phát biểu mà tôi nghe được từ tất cả các nguồn của hitler.
hitler nói "Tôi không muốn các người đồng hóa với người dân tộc Đức."
Ai đã thực sự gửi thông điệp đó ?
Ngay cả ở quốc gia Do Thái, cộng đồng hạnh phúc nhất là những người Do Thái Chính Cống và không có người Dân Ngoại hoặc thậm chí không có các hành vi dân ngoại ở giữa họ.
Khi chúng tôi tuân thủ thông điệp quan trọng từ Thiên Chúa,
không có tổn thất nào sẽ đến với bất kỳ Người Do Thái và niềm hạnh phúc đầy đủ đã được tiết lộ.
Điều đó đã xảy ra với tôi, gia đình của tôi và toàn bộ thành phố nơi tôi đang sống.
Cảm ơn Ngài, Thiên Chúa.
+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.
 
Ở đâu cũng có người thông minh và người ngu, nhưng văn hóa dương như ảnh hưởng tới cách suy nghĩ hơn
+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.

Phân Tích Tính Cách Của Đa Số Người Do Thái Qua Góc Nhìn Khoa Học Theo Hệ Thống Phân Loại Tính Cách MBTI

Dịch từ personalitycafe.com/myers-briggs-forum/12612-religion-type-mbti-perspective.html
Tác giả Stephen DeGrace


Làm trắc nghiệm MBTI tại đây
tracnghiemmbti.com
tgm.vn/blog/ban-quyen-thong-tin-phan-loai-tinh-cach/
mbti.toppion.com

Giới thiệu
Trải qua nhiều thập kỷ kể từ khi được thành lập, Hệ thống phân loại tính cách Myers Briggs đã tạo một cuộc cách mạng hóa toàn cầu trong nhiều lĩnh vực của đời sống nhân loại. Vì khả năng phân tích toàn diện hành vi con người trong tương tác. Ngày nay, Hệ thống phân loại tính cách Myers Briggs đang sử dụng để chọn sự nghiệp thích hợp và người bạn đời hoàn hảo cho mỗi cá nhân. Các ứng dụng của hệ thống phân loại tính cách Myers Briggs đã tiến ra thật xa và biến đổi nhiều lĩnh vực.
Đây là một thành công vang dội theo cách tự nhiên. Bạn có thể nghĩ rằng với tất cả các tiến trình này, chúng ta đã khai thác hết tất cả những giá trị trong Hệ thống phân loại tính cách MBTI cho các ứng dụng mới. Bạn đã sai lầm. Hệ thống phân loại tính cách MBTI không dừng lại trong việc chọn nghề nghiệp hoàn hảo và người bạn đời hoàn hảo cho bạn, khoa học thực hiện các bước quan trọng để kiểm tra độ chính xác qua các cuộc thử nghiệm và những lỗi lầm, điều đó có thể đưa ra sự hướng dẫn quan trọng trong các lĩnh vực khác của cuộc sống của bạn. Một trong những lĩnh vực chưa được khám phá đầy đủ cho đến bây giờ là vấn đề của việc lựa chọn các tôn giáo phù hợp với bạn. Trong quá khứ, đa số mọi người sử dụng để các tiêu chí phản khoa học để chọn lựa đức tin của bản thân họ như: tôn giáo của cha mẹ ( cha mẹ theo đạo thì con cái cũng phải theo đạo ), hoặc nếu bạn là một NF theo tất cả bạn bè hippie của bạn và nghĩ đó là "groovy" trong tuần đó. Đó rõ ràng là nhược điểm.
Không phải tất cả các tôn giáo là phù hợp cho tất cả mọi người. Trong thực tế, cũng như với nghề nghiệp, các loại tính cách MBTI đặc biệt là phù hợp nhất với các tôn giáo đặc biệt. Và có tôn giáo đặc biệt phù hợp nhất với một số loại MBTI đặc biệt. Vấn đề hiện nay là hàng triệu người mòn mỏi trong các tôn giáo mà không phù hợp với bản thân họ, như cọc vuông vào lỗ tròn. Tương tự như vậy, nhà thờ được làm đầy với hàng chục những người không phù hợp và chỉ tạo ra sự rắc rối.
Là một loại chuyên gia Hệ thống phân loại tính cách Myers Briggs Tôi ở đây để điền vào khoảng trống quan trọng này và xuất bản một hướng dẫn mà sẽ tạo ra một cuộc cách mạng xã hội và góp phần vào hạnh phúc của con người bằng cách giúp người dân tránh lãng phí những năm tháng cuộc sống của họ trong các tôn giáo không phù hợp với bản thân tự nhiên của họ. Dự thảo cuối cùng là chưa sẵn sàng, nhưng là một người cống hiến cho xã hội tôi xuất bản một bản tóm tắt nhanh chóng.


Tôn Giáo và Loại Tính Cách
Nghệ nhân (SP)
Các nghệ nhân đều có ADHD ( Rối loạn tăng động giảm chú ý - là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý ), và vì vậy nên chọn các tôn giáo kịch tính, đầy màu sắc và vui nhộn. Một cái gì đó một chút lập dị và cực đoan sẽ là một phần thưởng. ES nên chọn một cái gì đó mà họ có thể ném năng lượng và sự tinh tế của họ vào mà không cần phải tuân theo bất kỳ kỷ luật và học hành. Charismatic Protestantism là một ví dụ tuyệt vời. Tôi có thể chọn một cái gì đó tham gia nhiều hơn.

ISTP Nhà cơ khí học: Chọn một cái gì đó hardcore, tốt nhất là nơi bạn có thể đánh những kẻ thù của Thiên Chúa.
Extremist Fundamentalist Islam Chủ nghĩa Hồi Giáo Cực Đoan hiện đang là một lựa chọn phổ biến.
ISFP Người nghệ sĩ : Chọn một tôn giáo dựa vào nghệ thuật hay âm nhạc là rất tốt cho bạn. High Episcopalianism hoặc Công Giáo là tốt cho sân khấu nhạc kịch và âm nhạc cổ điển. Tránh xa bất cứ điều gì khô khan tẻ nhạt.
ESFP Người trình diễn : Pentecostalism Phong trào Ngũ Tuần
ESTP Nhà thực thi : Bạn là Hellbound, do đó, bạn không cần bận tâm. Chỉ cần đi ngủ.


Người Giám Hộ (SJ)
Các người giám hộ thích một cuộc sống khô khan khó khăn và theo tổ chức hội đoàn. Những người giám hộ nên sống một cuộc sống hội họp, tôn giáo mang tính chất kiểm sóat và có nhiều luật lệ mà họ thích áp đặt lên người khác. Sự lựa chọn lý tưởng sẽ là một tôn giáo có những luật lệ và giá trị cực kỳ vô lý và không phù hợp nhưng không thể cãi lại do năng lượng tuyệt đối và cứng cỏi của những người ủng hộ họ.


ESFJ Người quan tâm : Đạo Công Giáo
ESTJ Người giám sát : Hồi Giáo, nhánh chính phổ biến
ISTJ Người trách nhiệm : Methodism, hoặc những nhánh Tin Lành khác Protestant Christianity, miễn sao càng khô khan khó khăn càng tốt.
ISFJ Người nuôi dưỡng : Đạo Do Thái Giáo, nhánh Chính Thống và Bảo Thủ


Người Lý Trí (NT)
Người Lý Trí là người vô thần và evil. Sự lựa chọn đức tin của họ phải phản ánh điều đó


INTPs Nhà tư duy : INTPs luôn luôn đúng, do đó họ nên chọn vô thần, với một tùy chọn bất tử như là một mô phỏng trong một máy tính phức tạp không thể tưởng tượng ở phần cuối của thời gian như đã được chứng minh bởi các định luật vật lý.
INTJ Nhà khoa học : Objectivism Chủ nghĩa Khách Quan. Chủ nghĩa khách quan là triết lý của triết gia và văn hào người Mỹ gốc Nga Ayn Rand (1905-1982). Chủ nghĩa khách quan nói rằng thực tế hiện hữu độc lập với sự ý thức của con người; rằng con người có thể hiểu được khách quan qua tri giác bằng phương pháp cấu tạo khái niệm và luận lý quy nạp và luận lý suy diễn; rằng nguyên tắc đạo đức chính của con người là đi tìm hạnh phúc hoặc tư lợi hữu lý cho chính mình; rằng hệ thống xã hội duy nhất phù hợp với căn bản đạo đức đó là sự tôn trọng quyền lợi cá nhân thực hiện qua chủ nghĩa tư bản "laissez-faire"; và rằng vai trò của nghệ thuật trong đời sống là để chuyển biến từ những tư tưởng siêu hình sang một vật dạng hữu hình (một sản phẩm nghệ thuật) mà người nghệ sĩ có thể hiểu được và xúc cảm. Chữ "Khách quan" bắt nguồn từ ý niệm rằng kiến thức và giá trị của con người là khách quan: chúng không phải tạo ra bởi trí tưởng tượng của con người mà là bởi bản chất của thực tế, được nhận thức bởi trí óc của con người. Bà Rand dùng chữ này vì chữ mà bà muốn dùng để diễn tả triết lý dựa trên sự hiện hữu (chủ nghĩa hiện sinh) đã được dùng trong triết học.
ENTP Người nhìn xa : Bạn cũng luôn luôn đúng, nhưng giống như tất cả EP thiếu một khoảng chú ý. Hãy thử Thuyết bất khả tri agnosticism, và cố gắng không nghĩ về nó quá nhiều. Thuyết bất khả tri (Tiếng Anh: agnosticism) là quan điểm triết học cho rằng tính đúng hay sai của một số tuyên bố nhất định - đặc biệt là các tuyên bố thần học về sự tồn tại của Chúa Trời hay các vị thần - là chưa biết và không thể biết được hay không mạch lạc. Một số người theo thuyết bất khả tri suy diễn từ đó rằng các tuyên bố đó không liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống.
ENTJ Nhà điều hành : Tôn giáo có công dụng của nó. Tiền bạc, quyền lực và sự dễ dàng để tiếp cận với các đối tác tình dục sẵn sàng nhảy ngay lập tức vào tâm trí. Hãy thử bắt đầu tạo một giáo phái của riêng bạn. Các giáo phái nên dựa vào hoàn cảnh và thị hiếu thẩm mỹ của bạn, và bạn hãy lợi dụng đàn cừu đàn chiên và những người xung quanh bạn.


Người Duy Tâm (NF)
Người Duy Tâm yêu thích đam mê chìm đắm trong tâm linh, những tôn giáo cổ đại, lên đồng, phép thuật, ngồi thiền, Wicca hoặc Zen. Nếu bạn là một NF, bạn nên chọn các tôn giáo thích hợp cho bạn từ danh sách dưới đây. Nếu vì một số lý do lựa chọn chính xác cho kiểu của bạn là không thực tế cho bạn, cố gắng và thỏa hiệp bằng cách mặc quần áo funky, thường tránh chất khử mùi và giữ nhiều đồ vật dụng cụ ma thuật bùa ngải xung quanh căn hộ của bạn, giống như những lá bài Tarot. Hút rất nhiều Cỏ Dại là rất tốt cho bạn.


INFP Người lý tưởng hóa : Wicca, đặc biệt Celtic ngoại giáo Celtic paganism. Triệu Hồi Muôn Thú Giáo Druidism, nhưng không Asatru.
INFJ Người che chở : Zen Buddhism Phật Giáo Thiền Tôn
ENFP Người truyền cảm hứng : "Ecclectic paganism." Không ai yêu cầu sự tập trung chú ý của bạn, vì vậy bạn chỉ cần Hút Cỏ Dại và mua những quả cầu thủy tinh phép thuật ma thuật.
ENFJ Người cho đi : Hare Krishna Hindu Giáo Ấn Độ Giáo


Vậy thì đa số người Do Thái có tính cách của ISFJ người nuôi dưỡng

Nguồn tgm.vn/project/isfj-the-nurturer-nguoi-nuoi-duong/

ISFJ sống trong một thế giới ấm áp và đầy tình cảm. Họ thật sự rất ấm áp và có tấm lòng nhân hậu, và luôn tin vào những điều tốt đẹp nhất của người khác. Họ trân trọng sự hòa hợp và hợp tác, và thường rất nhạy cảm với cảm giác của mọi người. Người ta đánh giá cao ISFJ ở sự ân cần và quan tâm tới người khác, khả năng khai thác những điều tốt nhất của mọi người, xuất phát từ niềm tin vững chắc vào những điều tốt đẹp nhất.


ISFJ có một thế giới nội tâm phong phú mà những người xung quanh thường không hiểu được. Họ luôn thu thập thông tin về người khác cũng như những hoàn cảnh quan trọng đối với họ và cất giữ chúng. Sự lưu trữ thông tin quy mô lớn này thường chính xác một cách kinh ngạc, bởi ISFJ sở hữu một trí nhớ tối ưu đối với những việc quan trọng liên quan đến nguyên tắc sống của họ. Chẳng có gì lạ nếu ISFJ có thể nhớ được sự biểu lộ nét mặt đặc biệt nào đó một cách rất chi tiết nhiều năm sau khi sự kiện đó xảy ra, nếu điều đó gây ấn tượng mạnh cho ISFJ.

ISFJ có những ý tưởng rõ ràng trong việc hình dung sự việc sẽ như thế nào, và họ nỗ lực để đạt được nó. Họ thường trân trọng sự an toàn và lòng nhân hậu, tôn trọng phong tục tập quán và luật pháp. Họ tin vào những phương thức có sẵn bởi vì chúng luôn hoạt động hiệu quả, vậy nên họ không bao giờ áp dụng phương thức mới khi làm việc, trừ khi họ được giới thiệu một cách thức cơ bản khác với lời giải thích rõ ràng tại sao nó tốt hơn những phương pháp đã có.

>>> Nhiều giải Nobel là dĩ nhiên, có ý tưởng thì họ sẽ hoàn thành ý tưởng cho tới nơi tới chốn.

ISFJ học qua thực hành tốt hơn việc đọc sách hoặc áp dụng lý thuyết. Vậy nên rất ít ISFJ làm việc trong những lĩnh vực đòi hỏi phân tích các khái niệm và giả thiết. Họ luôn đề cao ứng dụng thực tế. Những phương thức giáo dục truyền thống của những bậc học cao mà đòi hỏi rất nhiều khả năng tạo ra giả thiết và sự trừu tượng được coi là việc quá lặt vặt đối với họ. ISFJ có thể nghiên cứu tốt một công việc khi họ được chỉ dẫn cách áp dụng thực tiễn để giải quyết chúng. Một khi họ đã thành thạo trong việc áp dụng chúng vào thực tiễn, ISFJ sẽ miệt mài thực hiện công việc đó đến cùng. ISFJ là người rất đáng tin cậy.


Các ISFJ có cảm quan về không gian, cách tổ chức và khiếu thẩm mỹ cực kì phát triển. Vì vậy, họ luôn mong muốn căn nhà của họ tiện nghi và ngăn nắp. Họ là những nhà trang trí nội thất vô cùng giỏi. Với khả năng đặc biệt này, kết hợp với sự nhạy cảm đối với cảm xúc và mong muốn của người khác, ISFJ là những người rất giỏi trong việc tặng quà cho người khác, bởi vì họ có thể tìm ra những món quà thích hợp khiến cho người nhận thật sự cảm kích.Hơn tất cả những kiểu tính cách MBTI khác, ISFJ có nhận thức cực kì rõ ràng về những cảm xúc nội tâm của họ, cũng như những cảm xúc của người khác. Họ thường không thể hiện cảm xúc mà giữ chúng ở trong lòng. Nếu đó là những cảm xúc tiêu cực, họ sẽ dồn nén chúng ở bên trong cho đến khi chúng thành những lời chỉ trích mạnh mẽ, không thể chối cãi đối với những cá nhân gây ra cho họ điều đó.

>>> Đàn ông người do thái mặc đồ đẹp, hát hay


Vì ISFJ hiếm khi thể hiện cảm xúc của chính mình nên họ cũng không thường để người khác nhận ra họ biết người đó đang cảm thấy gì. Tuy vậy, họ sẽ nói ra nếu cảm thấy người đó đang cần được giúp đỡ, cũng như trong trường hợp họ thật sự có thể giúp đỡ người đó nhận thức được cảm xúc của chính mình.ISFJ là người luôn đề cao trách nhiệm và bổn phận của mình. Họ chịu trách nhiệm một cách nghiêm túc, và tạo được sự tin tưởng. Vì vậy, mọi người thường hay nhờ cậy ISFJ. Khi được nhờ vả, họ khó có thể từ chối và việc này có thể sẽ trở thành gánh nặng của họ. Trong những trường hợp như vậy, ISFJ thường không để người khác biết mình đang gặp khó khăn, bởi họ không thích xung đột cũng như họ luôn đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu cá nhân. ISFJ cần học cách ý thức, đánh giá và thể hiện nhu cầu cá nhân nếu họ không muốn trở thành người quá tải vì công việc.

ISFJ cần những góp ý tích cực từ những người xung quanh. Nếu thiếu những góp ý tích cực, hoặc khi đối mặt với những lời phê bình, ISFJ sẽ nản lòng và họ có thể trở nên phiền muộn. Khi gặp chán nản hoặc căng thẳng trầm trọng, ISFJ bắt đầu tưởng tượng ra những điều tồi tệ sẽ xảy ra trong cuộc đời họ. Họ có cảm xúc mạnh mẽ về sự không thỏa mãn, và trở nên đoan chắc rằng “mọi thứ thật tồi tệ”, hoặc “tôi chẳng thể làm điều gì ra hồn cả”.

ISFJ là những người ấm áp, rộng lượng và đáng tin cậy. Họ có nhiều khả năng đặc biệt, được thể hiện qua sự nhạy cảm của họ với mọi người, và khả năng mạnh mẽ trong việc làm mọi việc trơn tru. Họ cần phải nhớ rằng không được quá chỉ trích bản thân, và cho phép bản thân nhận được sự ấm áp và yêu thương mà họ đã hào phóng cho đi đối với mọi người.

>>> ấm áp , rộng lượng , đáng tin cậy = ôm hôn nhảy múa ca hát
+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.
 
Last edited:
Người Do thái Sáng Tạo Hơn người Châu Á người Á Đông ?

Vì sao người Do thái Sáng Tạo Hơn người Á Đông

Vì sao một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Châu Á ? Điều đó không liên quan gì đến chỉ số thông minh IQ

Nghiên cứu của tôi cho thấy một người Do thái có khả năng để đạt giải Nobel gấp 625 lần hơn một người Á Đông ?

Vì sao vậy ?
Có liên quan gì đến chỉ số trí tuệ IQ không ?
Có liên quan gì đến cách người Do Thái dạy dỗ trong gia đình ?

Đánh lẽ ra thì các tiêu chuẩn học thuật cao cấp của nền văn hoá Á Đông sẽ tạo ra số lượng lớn hàng loạt các nhà phát minh sáng chế ?



Sự sáng tạo là quá trình tạo ra cái gì đó độc đáo và có ích, và sự thành công của quá trình sáng tạo là sự sáng chế phát minh. Giải Nobel là biểu tượng của thành tựu phát minh sáng chế.

Người Do Thái dân số ít hơn 0.2% tổng dân số nhân loại nhưng có khoảng 23% người chiến thắng giải Nobel. Bao gồm cả người thắng giải Nobel gần đây là Bob Dylan

Ngược lại, người Châu Á người Á Đông chiếm 23% tổng dân số thế giới nhưng chỉ có 4% người Đông Á chiến thắng giải Nobel.

Xét về quy mô dân số, tỷ lệ những người đoạt giải Nobel Kinh tế của người Do Thái là trên 115, nhưng tỷ lệ người Châu Á ít hơn 0,2. Theo thống kê, một người Do Thái có khả năng giành được giải Nobel hơn 625 lần so với người Châu Á.

Thực tế, người Do Thái tỏa sáng tốt trong tất cả các thành tựu sáng tạo.
Ví dụ: dân Do Thái đẻ ra một số nhạc sĩ người Do Thái vĩ đại nhất của thế kỷ 20: hơn 25% nhạc trưởng, 40% nghệ sĩ dương cầm, 50% nghệ sĩ trung hồ cầm cello và 65% nghệ sĩ vĩ cầm violin.


Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao hơn. Nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này.

Ngoài nghiên cứu về lịch sử Do Thái, văn hoá Do Thái và giáo dục Do Thái, tôi đã phỏng vấn và theo dõi người Do Thái và sinh sống cùng gia đình Do Thái trong ba năm.

Tôi đã nghiên cứu các văn bản Do Thái có ảnh hưởng, viếng thăm các nhà thờ và tham dự các buổi lễ Do Thái và ngày lễ Do Thái.

Tôi quyết tâm khám phá các tính năng độc đáo có thể ảnh hưởng đến sự sáng tạo.

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu, tôi không biết gì về văn hoá Do Thái.

Sau đó tôi đã học được rằng, nói chung, người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái.


Người Mỹ coi đó là điều cấm kỵ để đánh giá hoặc đưa ra nhận xét về người Do Thái

Nhưng vì tôi là người Hàn Quốc, tôi chưa bao giờ biết điều này.

Là một nhà nghiên cứu, sự không quen thuộc của tôi về điều cấm kỵ này đã giúp tôi duy trì tính khách quan của tôi.

Những phát hiện của tôi về sự khác biệt giữa việc dạy dỗ con cái con cháu của người Do Thái và người Á Châu đã gây ra nhiều tranh cãi, và trì hoãn việc xuất bản cuốn sách của tôi, The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, một vài năm nữa.

Nhiều người cho rằng người Do Thái thành công trong lĩnh vực sáng tạo vì họ có chỉ số IQ cao. Tuy nhiên, nghiên cứu của tôi không ủng hộ khẳng định này. Tôi thấy rằng người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương.


Người Châu Á và người Do Thái có chỉ số IQ tương đương

Tôi cũng nhận thấy rằng cả những người sáng tạo thành công lẫn những người ít sáng tạo đều được tạo ra bởi khí hậu của họ. Nghiên cứu sâu rộng của tôi đã kết hợp lại thành một khuôn khổ, mà tôi gọi là CATs.

CATs là ba bước thiết thực cho sự sáng tạo có thể đạt được trong bất kỳ nền văn hoá nào.
Đó là: tu luyện Sáng tạo Khí hậu (bước 1); nuôi dưỡng thái độ sáng tạo (bước 2); và phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo (bước 3).

Đáng ngạc nhiên, phần quan trọng nhất của một quá trình sáng tạo là khí hậu. Các khí hậu của các cá nhân bao gồm văn hoá, điều kiện vật lý và tâm lý, mối quan hệ giữa các cá nhân, quá trình phát triển và những thành kiến đang có. Tất cả các khía cạnh của khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến cách mọi người suy nghĩ và có tiềm năng khuyến khích hoặc làm nản lòng hành vi sáng tạo. May mắn, khí hậu là phần mà chúng ta có thể kiểm soát nhiều nhất.

Trong khuôn khổ CATs, ưu tiên nuôi dạy con cái của người Do Thái là rất hiệu quả trong việc phát triển khí hậu sáng tạo nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và kỹ năng tư duy của trẻ.

Người Do Thái nuôi dưỡng khí hậu sáng tạo bằng cách đặt ra những kỳ vọng cao và cung cấp những thách thức cho con cái của họ bao gồm đưa ra nhận xét thẳng thắn với sự rõ ràng và cụ thể.

Để đối phó với các mối đe dọa khủng khiếp mà người Do Thái phải đối mặt, Người Do Thái đã trở nên kiên cường và thể hiện niềm tin rằng "Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn.

Người Do Thái phát triển thái độ sáng tạo của trẻ như độc lập, tự tin (sự tự tin thực sự là biết được thế mạnh cụ thể của chính bản thân họ), khả năng phục hồi và chấp nhận rủi ro mạo hiểm chơi liều.

Hơn nữa, thay vì tập trung vào bi kịch, người Do Thái đã biến nó thành sự ủng hộ rộng rãi cho công lý xã hội. Thái độ này củng cố tư duy lớn qua lòng nhân ái.

Cha mẹ người Do Thái có xu hướng cung cấp cho trẻ em Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi để mở rộng sự tò mò hiếu kỳ của trẻ em người Do Thái.

Cha mẹ Do Thái và giáo viên người Do Thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như thái độ cởi mở, tính cộng đồng và sự thông minh, bằng cách cung cấp cho họ nhiều nguồn lực và kinh nghiệm.

Thật không may trong suốt lịch sử, người Do Thái đã buộc phải trốn khỏi nhà cửa và đất nước. Tuy nhiên, điều này cho phép họ tiếp xúc với đa dạng các chủng người, văn hoá, khu vực, ngôn ngữ, tôn giáo, và nghệ thuật khác nhau.

Những kinh nghiệm này đã mở ra những suy nghĩ của người Do Thái với những quan điểm, ý tưởng và cách sống khác, tăng khả năng tư duy sáng tạo.

Trong khi nuôi dưỡng trẻ thơ Do Thái những giá trị bản sắc Do Thái, Phụ huynh Do thái và thầy giáo Do thái nuôi dưỡng bản sắc văn hoá Do Thái bằng cách dạy cho họ về những điểm giống nhau và khác biệt giữa các nền văn hoá trong khi củng cố mong muốn duy trì bản sắc truyền thống Do Thái của họ.

Các cộng đồng người Do Thái đã phát triển các lớp học, hệ thống trường học, và các chuyến đi ngắn hạn và dài hạn đến quê hương của họ ở Israel. Nhận dạng văn hoá cho phép tạo ra nhiều quan điểm, những suy nghĩ phức tạp, và quan điểm của một người ngoài cuộc, giúp nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo.

Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng người Do Thái có khuynh hướng kết hôn muộn hơn so với những người không phải là người Do Thái.

Người Do Thái có nhiều tài chính và tình cảm hơn khi có con cái, giúp họ cung cấp cho con của họ các nguồn lực đa dạng.

Người Do Thái cũng dạy con cái của họ sớm hơn về cách tìm tòi và sử dụng các nguồn như sách vở, nghệ thuật, thư viện, viện bảo tàng và nguồn nhân lực, qua đó nuôi dưỡng sự tháo vát của trẻ em Do Thái.
https://www.youtube.com/watch?v=yKfTffZ3hgc

Cha mẹ người Do Thái / thầy giáo người Do thái nuôi dưỡng thái độ sáng tạo của trẻ như sự tò mò hiếu kỳ, tính lạc quan và ý tưởng lớn bằng cách cung cấp cho thiếu nhi Do Thái nguồn cảm hứng và động viên. Họ có xu hướng cung cấp cho nhi đồng Do Thái một mô hình để tìm hiểu và đặt câu hỏi mở rộng sự tò mò của trẻ em người Do Thái.

Người Do Thái nuôi dưỡng tình yêu của thiếu nhi người Do Thái để đọc sớm và được biết đến như là "Dân tộc của Sách". Hơn nữa, người Do Thái nhấn mạnh Tikkun olam - sửa chữa thế giới - dạy cho con cái của họ để lại cho thế giới một nơi tốt hơn là tìm kiềm điều đó, tạo ra sự rộng lượng như một qui tắc.

Nghiên cứu cho thấy các gia đình Do Thái làm từ thiện nhiều hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình tôn giáo khác hoặc các gia đình không tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.


Nghiên cứu cho thấy các gia đình người Do Thái từ thiện nhìu hơn và cho một số tiền lớn hơn các gia đình đạo khác hoặc các gia đình vô tôn giáo - bất kể mức thu nhập hay mức độ giàu có của họ.

Người Do Thái chiếm ít hơn 2% dân số Mỹ, nhưng họ chiếm 30% số người hiến tủy và hiến các bộ phận cơ thể để làm từ thiện nhiều nhất. Điều này củng cố sự lạc quan cho con trẻ Do Thái, tư duy hình ảnh lớn và lòng vị tha, các yếu tố chủ chốt cho sự đổi mới và sáng tạo.

Cha mẹ dân Do Thái và thầy giáo dân Do Thái có xu hướng nuôi dưỡng cảm xúc, tính tự chủ, vô kỷ luật và tính thích thách thức của trẻ em Do Thái bằng cách cung cấp cho con nít Do Thái sự tự do để được một mình và độc nhất.

Ngâm cứu cho thấy cha mẹ dân tộc Do Thái và thầy giáo dân tộc Do Thái ủng hộ sự tự biểu hiện của trẻ; sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và quan tâm của thiếu nhi Do Thái về cách thức và lý do tại sao mọi thứ xảy ra; và lập luận, chứ không phải là sự sạch sẽ, trật tự, quy tắc và cách cư xử tốt.

Cùng với bản sắc văn hoá Do Thái đã nuôi dưỡng sự vô kỷ luật của con cái họ, Người Do Thái đã tự xác định mình là những người kẻ ngoài cuộc không giống ai, những người ủng hộ những người lười biếng người thua cuộc người thất bại và những người đã từng là nạn nhân và đang là nạn nhân.


Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn
Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn
Cái gì không giết chết bạn sẽ khiến bạn mạnh mẽ hơn






Nguyên lý Nho Giáo Khổng Giáo Khổng Tử

Trước khi tôi nghiên cứu các phương pháp giảng dạy và dạy dỗ của người Do Thái, tôi đã nghiên cứu Khổng Học Khổng Giáo Khổng Tử Nho Giáo, vốn là chủ đề của luận văn tiến sĩ của tôi.

Các nguyên lý và giá trị Khổng giáo Nho Giáo dựa trên triết lý và ý tưởng của Khổng Tử, tiếp tục là nền tảng đạo đức cho hầu hết các dân tộc người châu Á người Á Đông, người mà tôi gọi là Khổng học trong bài báo này. Việc dạy dỗ và giáo huấn của Nho giáo theo bốn nguyên tắc cụ thể.

- Nguyên tắc thứ nhất là các mối quan hệ có tính phân cấp, ở đó tuổi tác là một dấu hiệu của trí tuệ và thẩm quyền. Người cao tuổi có quyền thực hiện kỷ luật và kiểm soát những người trẻ hơn để lắng nghe họ.

Vụ tai nạn máy bay phản lực thảm khốc Đại Hàn Dân Quốc năm 1997 đã cho thấy tác động tiêu cực của hệ thống phân cấp này, trong đó một kỹ sư trẻ tuổi không thách thức quyền lực của thuyền trưởng già hơn, dẫn đến 228 người thiệt mạng.

Cha mẹ Khổng giáo và các nhà giáo dục Khổng giáo dạy con mình sử dụng quyền kiểm soát và quyền lực. Họ nuôi dưỡng sự phụ thuộc và vâng phục trong con cái của họ và sự chấp nhận vững chắc của thông tin họ được dạy.


Điều này cản trở sự độc lập, tự chủ, tư duy phê phán, sự vô kỷ luật và tính thách thức của trẻ em, điều này là cần thiết cho kỹ năng tư duy sáng tạo. Nó cũng giới hạn các kỹ năng tư duy sáng tạo bằng cách ngăn ngừa thụ phấn chéo, đó là chia sẻ ý tưởng và / hoặc làm việc với các chuyên gia khác trong một mối quan hệ bình đẳng.

- Nguyên tắc thứ hai là sự siêng năng chăm chỉ và thành công trong học tập. Cha mẹ và các nhà giáo dục Nho giáo dạy rằng thành công trong học tập là quan trọng không chỉ đối với trẻ em mà còn cho danh dự gia đình rộng lớn và thậm chí là cả tổ tiên.


Nguyên tắc này đã gây ra sự cạnh tranh khốc liệt và không lành mạnh ở Trung Quốc, dẫn đến cái gọi là "địa ngục thi cử Châu Á hay địa ngục thi cử Á Đông từ những năm 1970, dẫn đến tỷ lệ tự tử cao ở các sinh viên Châu Á sinh viên Á Đông.

Cha mẹ Khổng học và nhà giáo dục Khổng học mang giá trị cao nhất đối với công việc học tập, đó là thực hành chuyên sâu, bài tập về nhà nhiều, và kết quả; họ không đánh giá sự vui chơi của trẻ em, tính mơ mộng, hoặc sự tò mò hiếu kỳ, sở thích và sự hứng thú của trẻ em. Điều này cản trở sự phát triển của trẻ em về tính tò mò hiếu kỳ, tự nhiên và sáng tạo.

Nhìn chung, việc nuôi dạy con cái kiểu Nho giáo Khổng Giáo Khổng Tử Khổng Học dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thận và tính sáng tạo.

- Nguyên tắc thứ ba là lòng hiếu thảo (cha mẹ yêu cầu không cần đặt câu hỏi) và lòng trung thành. Cha mẹ Khổng học rất quan tâm và hy sinh rất nhiều cho thành công học vấn của con mình. Đổi lại, con cái của họ tìm cách trở nên giàu có và đạt được vị thế xã hội cao để họ có thể trả nợ cho cha mẹ của mình cho những hy sinh mà cha mẹ đã làm cho bản thân họ, mà không có chỗ cho hoạt động từ thiện.


Là sự mở rộng lòng đạo hiếu, lòng trung thành trong công việc đã góp phần vào sự thành công về kinh tế của các quốc gia châu Á quốc gia Á Đông trong những năm 1980.

Tuy nhiên, điều đó dẫn các nhà Khổng học chấp nhận quyền lực không câu hỏi và từ chối ý tưởng khác biệt với cả nhóm vì lòng trung thành với nhóm nội bộ của họ.

Cha mẹ Nho giáo dạy con cái mình phải làm việc chăm chỉ hơn và phải giỏi hơn những người bạn cùng trang lứa. Họ công khai so sánh con cái của họ với con cái của người khác, điều này giúp thúc đẩy sự phân chia tạo ra đội nhóm của những kẻ thất bại và những người thành công.

Thái độ này làm giảm đi sự suy nghĩ, tư duy lớn của con cái, sự từ bi, và sự thụ phấn chéo, là những yếu tố chính cho kỹ năng tư duy sáng tạo.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tính cạnh tranh cực đoan đã dẫn đến sự phổ biến của sinh viên châu Á về đạo văn và thiếu ý tưởng ban đầu. Họ càng cảm thấy nghĩa vụ hiếu học hơn, họ càng sẵn sàng lừa dối hoặc đạt được mục tiêu bằng bất cứ cách nào cần thiết.

- Nguyên tắc cuối cùng là hài hòa và phù hợp. Cha mẹ và nhà giáo dục Nho giáo dạy con cái mình phải khiêm tốn và không hành động khác biệt với những người khác.

Điều này có thể làm giảm sự tự tin và cảm giác cá nhân và sự độc đáo của trẻ em.

Họ nhấn mạnh quá mức các mối quan hệ hài hòa và tránh xung đột, tránh sự bất đồng và né tránh mâu thuẫn.

Trẻ em Á châu trẻ em Á Đông rất quan tâm đến quan điểm của người khác. Chính thức và nghiêm túc được khuyến khích, trong khi vui tươi và hài hước thì không. Vì vậy, sự vui tươi, vô kỷ luật, và tính thách thức của họ bị chà đạp, mà điều này lại vốn cần thiết để phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo.

Mặc dù có một số điểm giống nhau giữa việc nuôi dạy trẻ em của người Do Thái và dạy dỗ con cái của Nho giáo Khổng giáo Khổng Tử Khổng học,

nói chung, việc dạy dỗ con cái của người Do Thái dẫn đến sự đổi mới, trong khi đó sự nuôi dạy con cái của Nho giáo dẫn đến thiếu sự tự thể hiện bản thân và tính sáng tạo.

Kết quả là trẻ em châu Á trẻ em Đông Á thường giống như người "bonsais". Bonsai là một cây có hình dáng trang trí được cắt tỉa và nắn hình dạng bằng dây để nó không thể phát triển tất cả tiềm năng của nó.

Mọi người đều sinh ra tò mò hiếu kỳ và sáng tạo, nhưng khí hậu hoặc môi trường nuôi dưỡng đè nén sự sáng tạo của họ. Khám phá cách mọi người có thể tu luyện khí hậu sáng tạo, nuôi dưỡng thái độ sáng tạo và áp dụng các kỹ năng tư duy sáng tạo để đạt được sự đổi mới trong The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation

Bài báo này trích dẫn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation, đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả các nguồn được tìm thấy trong cuốn sách.

Tiến sĩ Kim là giáo sư đạt được giải thưởng đổi mới và sáng tạo của trường đại học William & Mary. Nghiên cứu của cô "Khủng hoảng sáng tạo" là chủ đề của một câu chuyện trên bìa báo Newsweek 2010. Nhiều tạp chí tin tức đã tìm kiếm chuyên môn của bà bao gồm Washington Post, Tạp chí Phố Wall, Báo cáo Thế giới & Báo chí Hoa Kỳ, NPR và các trang khác. Bài viết gây tranh cãi này là trích đoạn từ The Creativity Challenge: How We Can Recapture American Innovation đó là tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Tất cả nguồn đều được tìm thấy trong cuốn sách của cô.

Dịch từ aish.com/jw/s/Are-Jews-More-Creative-than-Asians.html
 
Điều gì tạo ra Gien Xịn của người Do Thái ?

Người Do thái Ashkenazi Sự Kết Hợp Hoàn Hảo giữa người Trung Đông và người Châu Âu

Theo lưu lượng truy cập công cụ tìm kiếm một trong những bài viết phổ biến nhất trên weblog này có liên quan đến vấn đề về nền tảng di truyền của người Do Thái Ashkenazi. Họ là những người Do Thái có nguồn gốc từ Trung Âu và Đông Âu, và là số đông người Do Thái áp đảo ở Hoa Kỳ. Nguồn gốc di truyền của nhóm người Do Thái Ashkenazi này mang đầy tính chính trị một cách tự nhiên. Với sự gia tăng của nền công nghệ sinh học, đặc điểm của người Do Thái đã được thử nghiệm như là một cách để phân biệt người Do Thái như là một dân tộc ngoài sự khác biệt về văn hoá và tôn giáo. Sau Thế chiến II các nhà nghiên cứu khác đã cố gắng cho thấy rằng người Do Thái không khác biệt về gien di truyền với xét nghiệm các nhóm máu tương đối nguyên thủy. Đúng hơn, họ là con cháu của những người cải đạo.

Các công trình nghiên cứu gen di truyền gần đây đã cho kết quả hỗn hợp. Sự suy luận hợp lý sau đó là người Do Thái là một dân số có lịch sử phức tạp, và sự phức tạp đó được thể hiện trong gene di truyền của họ. Một bài báo mới khám phá những vấn đề này một cách chi tiết hơn, các Genomic microsatellites xác định tổ tiên người Do Thái chia sẻ giữa các dân tộc Trung Đông và các dân tộc Châu Âu:

Lý lịch

Các nghiên cứu di truyền thường đưa ra các kết quả mâu thuẫn nhau về vấn đề liệu những người Do Thái xa xôi ở các địa điểm vị trí địa lý khác nhau có cùng sự giống nhau về gien di truyền hay không với những người không phải là người Do Thái ở gần đó. Chúng tôi thực hiện một cuộc nghiên cứu gene di truyền về quần thể gen của dân Do Thái, phân tích 678 autosomal microsatellite loci ở 78 cá nhân từ 4 nhóm Do Thái cùng với dữ liệu tương tự về 321 cá nhân từ 12 dân ngoại Trung Đông và dân ngoại Châu Âu.

Các kết quả

Chúng tôi thấy rằng các quần thể Do Thái cho thấy mức độ giống nhau về mặt di truyền cao với nhau, nhóm lại với nhau trong một số loại phân tích cấu trúc dân số. Hơn nữa, sự phân nhóm Bayesian, các cây hàng xóm kết nối, và quy mô đa chiều đặt các cộng đồng Do Thái là trung gian giữa dân ngoại người Trung Đông và dân ngoại người Châu Âu.

Kết luận

Những kết quả này ủng hộ quan điểm cho thấy dân số người Do Thái phần lớn có chung một tổ tiên nguồn gốc Trung Đông và trong lịch sử, họ đã trải qua các mức độ lai giống khác nhau với các nhóm người không phải là người Do Thái mang nguồn gốc Âu Châu.

Các kết quả chung của bài báo được minh họa rõ ràng bằng các con số.

Hình dưới đây cho thấy tổ tiên chính thức của các cá nhân giả định một số K của các nhóm tổ tiên. Như bạn thấy, người Do Thái trong mẫu được đặt nằm giữa các nhóm Trung Đông và Châu Âu. Tại K = 5 và K = 6 mối quan hệ giữa người Do Thái và người Palestine xuất hiện; một quần thể tổ tiên chung mà chia đôi đường ở một số điểm.

Và đây là cây ghép hàng xóm.

Các nhóm người Do Thái trong màu Đỏ, người Châu Âu trong nhóm màu Xanh Dương và người Trung Đông trong màu Ô liu.

Bây giờ đây là người Do Thái so sánh với các quần thể khác nhau. Người Do Thái màu Đỏ. Tôi đã sửa lại và dán nhãn cho rõ ràng.

Từ kết luận của bài báo:



 
Last edited:

tuanan

Member
Người do thái người nào tóc mai cũng dài, 80% các nhà bác học từ cổ kim phát minh ra các định luật định lý toàn là người do thái, người đức sợ người do thái giống như đố kỵ người tài vậy. Thường thì các nhà khoa học họ dành thời gian cả đời để nghiên cứu chứ không quan tâm lắm đến chuyện yêu đương nên cô đơn, mình nghĩ thế ^^
 
Tố chất tổng thể người Do thái Cao Hơn các Chủng Tộc Khác ?
Tố chất tổng thể người Do thái Cao Hơn các Dân Tộc Khác ?

Một vị Đại sứ Hàn Quốc từng phát biểu:

Chúng tôi đã rất tò mò về thành tích học tập xuất sắc của người Do Thái. Chúng tôi đã cố gắng để hiểu được những bí mật của người Do Thái. Tại sao người Do Thái lại hơn các quốc gia khác ở nhiều lĩnh vực?

Quả thực đúng như những lời này, có rất nhiều người đều ngưỡng mộ và tò mò vì sao chủng tộc Do Thái lại có tố chất cao hơn các dân tộc khác trên thế giới ?

Chủng tộc Do Thái dựa vào nền văn minh để lập nghiệp

Người Do Thái được sử sách nhân loại ghi chép là chủng tộc có nền văn minh sớm nhất ở phương Tây. Từ thế kỷ thứ nhất công nguyên, vì để tránh làm nô lệ cho người La Mã, người Do Thái bắt đầu trôi giạt đi khắp nơi, phân bố rải rác ở khắp nơi trên thế giới. Đến năm 1947, người Do Thái mới bắt đầu quay trở lại quê hương mình.

Chủng tộc Do Thái dựa vào nền văn minh để lập nghiệp. Học hành là một phần của nền văn minh, là thể hiện tấm lòng tôn kính của con người đối với Tạo hóa. Vì thế, mỗi người Do Thái đều phải đọc cuốn
Talmud là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái

Talmud có nghĩa là “nghiên cứu và học hành”. Talmud là bí kíp chuẩn của người Do Thái, do hơn 2000 sư phụ Do Thái và các nhà khoa học Do Thái biên soạn, chỉnh lý trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 6.

Talmud cho rằng: Học tập là hành vi thánh thiện nhất, là nguồn gốc của đạo đức tốt đẹp. Sự thành kính, thiện chí, ôn hòa, thanh nhã của một con người đều là kết quả của nền giáo dục. Người Do Thái cho rằng: Sư phụ vĩ đại hơn Đức Vua.

Cho nên, người Do Thái vô cùng kính trọng sư phụ thầy giáo. Nhờ có học tập, nhờ có tri thức, nhờ có sách mà người Do Thái vô gia cư đi đến đâu cũng đều có thể sinh tồn được, thậm chí còn trở nên mạnh mẽ hơn.

Talmud hàm chứa trí tuệ về sinh tồn, tài phú, sức khỏe, giao tiếp xã hội, nên trở thành cuốn sách mà mỗi người Do Thái nhất định phải học thuộc lòng.

Giáo dục là tài phú, tri thức là nguồn gốc của trí tuệ Do Thái.

Người Do Thái cho rằng, trí tuệ cao hơn tri thức

Tri thức là gì? Tri thức chính là chân tướng và tồn tại khách quan của vạn vật vạn sự. Còn trí tuệ là đem sự tồn tại khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.

Đối với con người, quan trọng nhất là gì? Chính là trí tuệ, mà tri thức là nguồn gốc của trí tuệ. Mục đích của đọc sách chính là mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét. Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ! Bởi vậy, trí tuệ đến từ tri thức và cao hơn tri thức.

Người Do Thái tôn sùng sự sáng tạo ra cái mới. Người Do Thái cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là một loại trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.

Người Châu Á người Á Đông da vàng thường hỏi con cái khi chúng tan trường là: Hôm nay con làm bài thế nào ?

Còn cha mẹ người Do Thái sẽ hỏi con: Hôm nay con có đưa ra được câu hỏi nào không? Hôm nay con có gì khác hôm qua không ?

Người Do Thái cho rằng sáng tạo là cách làm trí tuệ chuyển động, khai mở trí tuệ và làm trí tuệ linh hoạt. Con người thông qua học tập mà có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính bản thân mình.

Người Do Thái cho rằng giáo dục chính là tài phú, giáo dục có thể thay đổi cuộc đời, thay đổi vận mệnh và thay đổi hết thảy. Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của người Do Thái đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.

Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, đối với người Do Thái thì có thể thứ gì cũng không cần nhưng tri thức thì không thể không cần. Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và có thể hưởng dụng cả đời.

Vì thế, người Do Thái là chủng tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ, từ trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa bỏ được nạn mù chữ. Cho nên, đây là nguyên nhân khiến tố chất tổng thể của chủng tộc Do Thái cao hơn của các dân tộc khác một bậc.

Do Thái là quốc gia sáng tạo nhất
Bởi vì bối cảnh nền văn minh đặc thù và coi trọng giáo dục cho nên, chủng tộc Do Thái là chủng tộc có nhiều thành tựu nhất trên thế giới.

Người Do Thái là chủng tộc có trí tuệ đầy đủ nhất về nền văn minh: Jerusalem, Israel là cái nôi của ba nền văn minh lớn trên thế giới, bao gồm Do Thái, Phương Tây, và Ả Rập.

Người Do Thái là chủng tộc có trí tuệ đầy đủ nhất về sinh tồn. Mặc dù trải qua hơn 2000 năm phiêu bạt khắp nơi, năm 1948 người Do Thái đã trùng tu kiến tạo lại nhà nước Israel, trở về quê hương bị mất trong 2000 năm, khôi phục lại ngôn ngữ Hebrew đã bị mất, trở thành cường quốc về khoa học kỹ thuật và quân sự.

Người Do Thái là chủng tộc có trí tuệ đầy đủ nhất về sinh tồn

Người Do Thái là chủng tộc có trí tuệ đầy đủ nhất về kinh doanh và của cải. Yên lặng theo đuổi sự giàu có, ra sức kiếm tiền và cũng ra sức quyên góp tiền, trở thành chủng tộc giàu có nhất trên thế giới.

Người Do Thái là chủng tộc hiểu biết nhất về giáo dục và nghệ thuật. Giáo dục gia đình của người Do Thái có thể nói là giáo dục thành công nhất trên thế giới

Giáo dục gia đình người Do Thái có thể nói là giáo dục thành công nhất trên thế giới

Người Do Thái là chủng tộc có đầy đủ nhất về tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo. Israel vĩnh viễn xưng mình là “Quốc gia khởi nghiệp” (Start-up Nation). Trên thế giới, trong các nước sáng tạo nhất, ngoài Mỹ ra thì phải kể đến Israel. Các sinh viên Israel sau khi tốt nghiệp đại học, nhiều người lựa chọn con đường tự gây dựng sự nghiệp. Bởi vậy, hàng năm số lượng các công ty mới ra đời ở quốc gia này tương đối nhiều.

Người Do Thái là chủng tộc giỏi về phát hiện và bồi dưỡng tài năng, trí tuệ. Israel là quốc gia có tài nguyên thiên nhiên cằn cỗi, gần như chỉ có sa mạc và đá. Nhưng, theo lời của người Israel thì: Tạo hóa rất công bằng. Ngài đã ban dầu mỏ cho người Ả Rập và ban trí tuệ cho người Do Thái.

Tạo hóa rất công bằng. Ngài đã ban dầu mỏ cho người Ả Rập và ban trí tuệ cho người Do Thái
 
Last edited:
Người Do Thái Ashkenazi hậu duệ của 350 người

Sự chọn lọc tự nhiên đã xảy ra với dân tộc Ashkenazi Do Thái từ 600 đến 800 năm trước, các nhà di truyền học đã phân tích gen của người Do Thái Ashkenazi và kết quả cho thấy mỗi người Do Thái Ashkenazi là anh em họ đời thứ 30 của nhau.

Nghiên cứu được đăng trên nhật báo thứ ba của tờ báo Nature Communications, tác giả là Shai Carmi giáo sư khoa học máy tính tại Đại học Columbia và hơn 20 nhà nghiên cứu y khoa từ những Đại Học sau đây Yale, Columbia, Yeshiva University’s Albert Einstein College of Medicine, Memorial Sloan-Kettering Cancer Center, Hebrew University of Jerusalem và những viện hàm lâm khác.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích bộ gen của 128 người Do Thái Ashkenazi và so sánh chúng với Dân Ngoại goyim để xác định gen di truyền nào là độc nhất đối với người Ashkenazi Do Thái. Họ phát hiện ra rằng sự tương đồng về gien di truyền của người Do Thái Ashkenazi rất nghiêm trọng đến nỗi một trong những nhà nghiên cứu, giáo sư Columbia, Itsik Pe'er, nói với trang web Live Science rằng trong số những người Do Thái Ashkenazi, "tất cả bọn họ đều là anh em họ thứ 30".

Các phát hiện này cho phép các nhà nghiên cứu liệt kê gần như tất cả các biến thể di truyền từ dân số sáng lập, các tác giả của nghiên cứu cho biết. Việc biên mục các tài liệu này có thể giúp các nhà lâm sàng giải thích về các đột biến di truyền của các cá nhân, giúp cải thiện việc lập các bản đồ bệnh nan y và cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử của các dân tộc Trung Đông và những dân tộc Châu Âu.

Danh mục bộ gen người Do thái Ashkenazi hoàn chỉnh sẽ giúp xác định các đột biến gây bệnh nan y mà các tổ tiên người Ashkenazi đã qua đời.

Cho đến nay, dữ liệu chỉ có sẵn cho một tập con nhỏ các gien di truyền Ashkenazi thông thường - khoảng một trong mỗi 3.000 ký tự gien di truyền. Các phát hiện dự kiến là sẽ giúp nghiên cứu bệnh ở các nhóm dân tộc khác.

Nghiên cứu của chúng tôi là bộ dữ liệu trình tự DNA đầy đủ và đầu tiên có sẵn cho bộ gen người Do thái Ashkenazi ", Itzik Pe'er, nhà khoa học máy tính Israel tại Đại học Columbia, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nói. "Với danh mục các gien đột biến toàn cầu này có trong dân số người Do Thái Ashkenazi, chúng ta sẽ có thể sắp xếp các gen bệnh nan y trên bản đồ một cách hiệu quả hơn và do đó hiểu rõ hơn về các rối loạn thông thường. Chúng tôi thấy nghiên cứu này phục vụ như một phương tiện cho y học cá nhân và một mô hình cho các nhà nghiên cứu làm việc với các chủng tộc khác ".

Người Do Thái Ashkenazi được biết đến có nguồn gốc ở Levant, nơi mà Israel đang đánh đấm ở giữa vùng này. Nhưng chính xác thì người Châu Âu nào là người Do Thái Ashkenazi vẫn còn đang gây tranh cãi. Một phân tích của cơ sở dữ liệu gen cho thấy những người Do Thái thuần chủng Ashkenazi có một nửa gien người Châu Âu và một nửa gen người Trung Đông. Theo phân tích, họ sống trong thời kỳ Trung cổ, khoảng 600 đến 800 năm trước, và chỉ có khoảng 350 người.

Phân tích của chúng tôi cho thấy các nhà sáng lập thời trung cổ của dân tộc Ashkenazi Do Thái là sự kết hợp với các sắc tộc, có nguồn gốc Châu Âu và gốc gác Trung Đông, gần như bằng nhau ", Shai Carmi, một nhà khoa học hậu tiến sĩ làm việc cùng Pe'er, đã tiến hành phân tích. "Dữ liệu đã toàn diện hơn là những gì đã có trước đây và chúng tôi tin rằng dữ liệu này giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tổ tiên của người Châu Âu và tổ tiên của người Trung Đông trong những người Do Thái Ashkenazi

Phân tích gen di truyền cũng cho thấy rằng người Châu Âu ngày nay chủ yếu đến từ những người di cư từ Trung Đông sau Thời kỳ băng hà cuối cùng, cách đây khoảng 20.000 năm, không phải từ những người đầu tiên đến lục địa cách đây khoảng 40.000 năm. Các nhà nghiên cứu hiện đang tìm kiếm nơi mà người Trung Đông và người Do Thái Châu Âu gặp nhau lần đầu tiên và ai là con cháu gần nhất của họ hiện nay.

Bởi vì cộng đồng Ashkenazi bắt đầu với dân số quá ít ỏi, và cộng đồng người Ashkenazi vẫn được cô lập về mặt di truyền, dân tộc Ashkenazi đã phát triển một lượng lớn các gen đột biến gây bệnh nan y trong gien di truyền của họ. Ngay cả ngày nay, những người Do Thái Ashkenazi được biết là có nguy cơ cao về nhiều căn bệnh nan y, bao gồm ung thư vú, ung thư buồng trứng và bệnh Tay-Sach. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều đột biến gây ra bởi gien di truyền của người Ashkenazi vẫn còn chưa được khám phá hết.

Để giải quyết vấn đề này, Pe'er và một nhóm các nhà nghiên cứu tại Hiệp hội Genome Ashkenazi (TAGC) đã thực hiện việc sắp xếp các bộ gen người Ashkenazi theo chiều sâu. Tìm thấy rằng các bộ gen có đột biến hơn 50 phần trăm so với các bản mẫu của gien người châu Âu trung bình, họ đã biên soạn một danh mục toàn diện các đột biến gen di truyền được tìm thấy trong những người Do Thái Ashkenazi.

Danh mục đã được chứng minh là có hữu ích cho các nhà cung cấp thử nghiệm để phân tích gien của phụ huynh để dự đoán xem sẽ có những căn bệnh nguy hiểm gì sẽ di truyền cho con cháu của họ trong tương lai. Họ cũng đang làm việc để sắp xếp thêm khoảng 500 bộ gen người Ashkenazi để mở rộng danh mục.

Theo Lencz, TAGC tiến bộ trong việc đưa các genomics cá nhân vào phòng khám, vì nó cho bác sĩ biết liệu có một đột biến trong bộ gen của bệnh nhân có thể tương đồng với những người khỏe mạnh khác và có thể giảm bớt lo lắng rằng nó sẽ gây ra bệnh nan y. "Nếu không có công việc của chúng tôi, trình tự bộ gen của bệnh nhân khó giải thích hơn và dễ gây ra những cảnh báo giả. Chúng tôi đã loại bỏ hai phần ba số cảnh báo giả này

Bằng cách tiết lộ thông tin gen di truyền độc đáo của người Do Thái Ashkenazi, danh mục cũng nên cho phép được xác định các gen nằm sau nhiều bệnh dịch làm cho dân chúng bị tai ương dịch bệnh. Các nhà nghiên cứu đang ngâm cứu các loại bệnh cụ thể của bệnh Ashkenazi, bao gồm bệnh tâm thần phân liệt, bệnh Parkinson, bệnh Crohn và Ung Thư, cũng như các đặc điểm khác như trường thọ sống lâu dài. Các nhà nghiên cứu hy vọng nhiều người trong số những hiểu biết y học này có liên quan đến dân số nói chung.

Dịch từ timesofisrael.com/ashkenazi-jews-descend-from-350-people-study-finds
 
Người Do Thái có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại

Người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Thổ Nhĩ Kỳ Cổ Đại: Nghiên cứu mới
Nghiên cứu mới cho thấy ngôn ngữ Yiddish của người Do Thái có nguồn gốc ở đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ

Theo một nghiên cứu mới, đa số người Do Thái hiện đại trên thế giới, cũng như ngôn ngữ Yiddish, đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, chứ không phải là các khu vực khác ở vùng Trung Đông.

Tiến sĩ Eran Elhaik của Đại học Sheffield đã sử dụng một hệ thống máy tính mô hình hoá để chuyển đổi DNA Người Do Thái Ashkenazi - các cộng đồng Do Thái theo lịch sử nằm ở Châu Âu - số liệu của họ vào thông tin địa lý, máy tính cho thấy 90 phần trăm người Do Thái Ashkenazi có nguồn gốc từ người Hy Lạp, người Ba Tư Iran và những người khác đã thuộc địa phía bắc Anatolia (ngày nay là miền bắc Thổ Nhĩ Kỳ) cách đây hơn 2.000 năm trước khi chuyển sang đạo Do thái giáo.

Tiến sĩ Elhaik nói là ông tin rằng Ba ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ còn sót lại - Iskenaz, Eskenaz và Ashanaz - nằm ở phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo thành một phần của quê hương của dân tộc Ashkenazi nguyên thủy và thành lập một sự phát triển bùng nổ của ngôn ngữ Do Thái hiện đại là tiếng Yiddish.

Chúng tôi xác định được 367 người khẳng định họ có hai cha mẹ là người Do Thái Ashkenazi và chúng tôi chia nhóm ra thành những người mà cha mẹ họ chỉ nói tiếng Yiddish và những nhóm người khác ", Eran Elhaik, trưởng nhóm nghiên cứu, nói với Wired.

Ba ngôi làng này đều bắt nguồn từ danh từ "Ashkenaz", là gốc rễ của danh từ "Ashkenazi". Elhaik nói với Wired rằng phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ là nơi duy nhất có bốn tên địa danh này tồn tại

Các học giả trước đây đã xác định được tiếng Yiddish theo nguyên bản ngôn ngữ Đức hoặc Slavic, nhưng Elhaik và những người khác tin rằng tiếng Yiddish đã được phát triển trong thế kỷ 8 và thế kỷ 9 công nguyên, bởi các thương gia Do Thái kinh doanh dọc theo con đường tơ lụa nổi tiếng nối liền giữa Trung Quốc và châu Âu.

Elhaik lưu ý rằng kết quả này thiệt là "đáng ngạc nhiên" vì khu vực này không có một "lịch sử phong phú của người Do Thái".

Chúng tôi kết luận rằng AJs [ người Do Thái Ashkenazic ] có thể bắt nguồn từ thiên niên kỷ đầu tiên khi người Do Thái Ba Tư Iran đã Do Thái Hóa người Hy Lạp-Romanian, người Thổ, người Ba Tư Iran, người miền Nam Caucasus và người Slavic cư ngụ ở vùng đất Ashkenaz ở Thổ Nhĩ Kỳ ", nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trong tạp chí Genome Biology.

Những phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng tiếng Yiddish được tạo ra bởi các thương gia người Do Thái Slav-Ba Tư Iran đang chạy theo con đường tơ lụa nằm giữa nước Đức, Bắc Phi và Trung Hoa.

Cuộc tranh cãi về nguồn gốc sắc tộc của người Do Thái Ashkenazi đã bị các nhà chủ nghĩa dân tộc Do Thái, Palestine và những người bài Do Thái tất cả họ phản kháng dữ dội, tất cả đều cho rằng việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến tuyên bố của người Do Thái đối với mảnh đất Israel hiện đại.

Lý thuyết cho thấy những người Do Thái Ashkenazi hiện đại là những người đã cải đạo đến từ vương quốc Khazaria cổ đại ở Trung Á và do đó người Do Thái hiện đại không có liên kết gì về mặt gen di truyền tổ tiên với vương quốc Judea trong Kinh Thánh và mười hai chi tộc Israel - đã được một số người theo chủ nghĩa chống Zionist làm công cụ và cái cớ và lý do để phủ nhận những tuyên bố của người Do thái đối với lịch sử vùng đất Palestine.

Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã cho thấy mối liên hệ gene di truyền chia sẻ chung tổ tiên giữa người Do Thái Ashkenazi và các dân tộc Trung Đông khác, bao gồm cả người Palestine.

Những người hàng xóm gần gũi nhất về mặt gien di truyền đối với các nhóm người Do Thái là người Palestine, người Bedouins ở Israel, và người Druze ngoài ra còn có những người Nam Âu, bao gồm cả người Cypriots

Theo Harry Ostrer, giáo sư về khoa nhi và khoa bệnh lý học tại Đại học Y khoa Albert Einstein ở Bronx, New York và Karl Skorecki, giám đốc phát triển y khoa và nghiên cứu tại Rambam Health Care Campus ở Haifa trong tạp chí Human Genetics vào tháng 10 năm 2012.

Nguồn middleeasteye.net/news/most-jews-descended-ancient-turkey-new-study-2107639949
 
Ngó Mỹ, dòm Nhật, hóng Do Thái: sự lựa chọn nào cho ta?

Sự trì trệ kinh tế trong năm năm qua đã làm tổn hại nặng nề tới lòng tự tin của người Việt. Cái hào hứng, hồ hởi, phấn khởi, thậm chí đắc thắng của thời kỳ 2007-08 đã nhường chỗ cho trạng thái u ám, bi quan, bực bội và cáu bẳn, dai dẳng từ 2010 và ngày càng loang rộng. Một mặt, người ta đổ lỗi cho cái thể chế nói riêng và “cái nước mình” nói chung, như trong câu “Cái nước mình nó thế!”, bảo bối được nhà văn hóa Hoàng Ngọc Hiến trao tặng giới trí thức để họ cùng với ông thể hiện một cách tài tình thái độ buông xuôi của mình mà không ai có thể trách cứ được. Mặt khác, người ta đổ lỗi cho những người xung quanh. Cộng đồng người Việt hiện ra trên báo chí và mạng xã hội như một tập thể lười biếng, ngày ngày chỉ lượn từ quán trà chanh sang hàng bia hơi, sau đó thì hoặc là đi bắt trộm chó, hoặc là gia nhập đám đông đánh trộm chó một cách phấn khích man rợ, và chỉ dừng lại khi thấy một xe tải chở bia bị đổ ra đường. Văn hóa thì “xuống cấp”, và đạo đức đã hoàn toàn “băng hoại”. Với não trạng này, khá dễ hiểu khi thấy người Việt hướng tới một số dân tộc khác như những ngọn hải đăng trên biển cả mịt mù, mong tìm ra được một cuốn cẩm nang hướng dẫn tỉ mỉ phải sống như thế nào.

Ba dân tộc được nhắc tới nhiều nhất, với lòng thành kính, ngưỡng mộ và khâm phục, là Mỹ, Nhật và Do Thái.

Từ trái sang phải là người Mỹ người Nhật Bản và người Do Thái

Không ngày nào trôi qua mà không gặp một bài báo, một trạng thái trên Facebook ca ngợi sự ưu việt của những nền văn hóa kia, và những căn dặn tỉ mỉ để noi theo chúng. Người ta chuyền tay nhau các bài viết chê cười tủ rượu của người Việt, và ngợi khen tủ sách của người Do Thái,

Gia đình người Do Thái uống rượu

và còn cho biết thêm phụ huynh Do Thái “xây dựng thói quen đọc sách cho trẻ nhỏ từ khi còn trong nôi”, và “để sách hấp dẫn trẻ, họ thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý” (tôi tự hỏi bước tiếp theo sẽ là rắc nước hoa vào bát bột để trẻ hết biếng ăn?)

Người Do Thái chét mật ong chứ không nhỏ nước hoa

Người Do Thái nhỏ mật ong chứ không phải nhỏ nước hoa

Người Do Thái cho trẻ liếm sự ngọt ngào của ong mật

Một loạt các bài báo khác cũng khá được ưa thích chỉ ra sự khác nhau trong hành xử ở phòng chờ sân bay giữa người phương Tây ưu tú và người Việt ít học. Chúng khiển trách người Việt không thể rời mắt khỏi màn hình điện thoại, trong khi đó, “người phương Tây dành thời gian để trò chuyện, ăn nhẹ và quan sát xung quanh”. Thật tao nhã, chỉ “ăn nhẹ” thôi nhé, để không bị phân tâm khi quan sát vũ trụ kỳ diệu đang hiện hữu ngay ở sảnh B. Tiếp theo, một bức ảnh chụp một phụ nữ phương Tây đứng tuổi đang ngồi xổm có dòng chú thích “Một phụ nữ tóc vàng đọc sách dù đang phải ngồi chờ trong tình trạng bất tiện.”

Ngoài chuyện đọc sách, giáo dục trẻ con là cái mà người Việt luôn tầm sư học đạo. Tình hình rối như canh hẹ. Lúc thì người ta khuyên nhau nên nuôi con thành nhẫn nại, khiêm nhường “như người Nhật”. Lúc khác thì lại phải biến chúng thành quyết đoán, phá cách “như người Mỹ”. Buổi sáng thì tới khóa học “Bí quyết nuôi con thông minh của người Do Thái

”, buổi tối lại nghiền ngẫm triết lý được cho là của Nhật rằng “trẻ em không cần phải quá thông minh; thông minh, học giỏi không hẳn là một điều tốt.” Những nỗ lực này làm ta liên tưởng tới một đại gia đình thường xuyên ca cẩm về sự suy tàn của dòng họ mình, và cử những đứa con ra ngoài thám thính các gia đình thành công trong phố. “Họ dậy rất sớm để tập thể dục, sau đó ăn nhẹ và quan sát xung quanh,” một đứa trở về và tuyên bố. Đứa khác lại cho biết: “Họ làm việc thâu đêm bên máy tính, đó là bí quyết thành công của họ.” Điều mà đại gia đình này thiếu là niềm tin vào các giá trị của bản thân, và khả năng phân tích, đánh giá và phán xét thế giới xung quanh để không mù quáng chạy theo người khác. Việc chạy theo các công thức kiểu “nhỏ nước hoa vào sách để dụ trẻ con đọc”, về bản chất cũng giống phong trào uống nước tiểu của bản thân để chữa bách bệnh, vốn cực kỳ thịnh hành ở Việt Nam vào các thập kỷ trước. Bút ký Niệu liệu pháp của nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tái hiện lại phong trào này một cách rất hóm hỉnh và bắt đầu như sau: “Sáng đó không biết có việc gì mình sang Hội (Văn nghệ) sớm, thấy chú Khuyến phó chủ tịch hội, đứng đái ở hàng rào. Ông cầm cái ca, đái vào đấy, đầy ca thì bưng vào, trông điệu bộ kính cẩn ca nước đái lắm.” Sự khâm phục và ngưỡng mộ phương Tây và Nhật Bản gần như vô điều kiện này đạt tới đỉnh điểm qua phát ngôn của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong một bài báo ngày 1/1/2015 nhan đề Điều gì cần cho Việt Nam lúc này? trên Vietnamnet: “Ở nước ngoài, họ có thể chăm chút cả đám mây bay trên bầu trời.” Không cần biết “nước ngoài” cụ thể là ở đâu, không, ta không có nhu cầu biết, “nước ngoài” lấp lánh và mê hoặc. Nó là tất cả những gì không phải là chúng ta. “Nước ngoài” có tất cả những cái chúng ta không có nhưng khao khát, một cuộc sống cực lạc, viên mãn, những triền cỏ non và cây cối ra hoa kết trái, trẻ em ngoan ngoãn và thông minh, thanh niên nở nang và thân thiện, người già nhân hậu và độ lượng, và những đám mây, đặc biệt là những đám mây, chúng được chăm chút tỉ mỉ hằng sáng trước khi được thả ra bầu trời để đón bình minh. Nhưng, có lẽ “nước ngoài” cũng không phải là một miền đất hứa êm đềm, đầy mật ngọt trên mặt đất và tiếng chuông lục lạc vang trong không trung, như người ta vẫn hình dung? Và cư dân của nó cũng là những người trần mắt thịt, cũng luẩn quẩn trong tham, sân, si, cũng vô minh và bối rối trong cuộc sống? Ví dụ ư? Có ai biết là theo điều tra của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ năm qua thì một phần tư dân số Mỹ cho rằng mặt trời quay xung quanh trái đất. Có ai biết là trong năm 2013, 28% người Mỹ không đọc bất cứ một cuốn sách nào, và số lượng người Mỹ không đọc sách, theo The Atlantic, đã tăng gấp 3 kể từ 1978. Tôi đồ rằng nhóm người này không quá cảnh ở Nội Bài để được chụp ảnh trong phòng chờ. Vẫn nói chuyện về sách, có ai biết là 1/3 doanh thu của thị trường sách cho người lớn ở Nhật tới từ truyện tranh. Trong hình dung lãng mạn của người Việt, người Nhật ngồi ở tàu điện ngầm chăm chú đọc Khởi nghiệp của Fukuzawa. Thực tế trần trụi là họ nghiền ngẫm manga, chỉ cần nhìn khách Nhật trong các quán sushi ở Hà Nội thì biết. Nhà văn Murakami tin rằng chỉ 5% dân số Nhật thực sự yêu quý sách.

Còn về người Do Thái, thật đáng tiếc là phải làm sứt mẻ huyền thoại “quốc gia khởi nghiệp”, nhưng Israel đang có vấn đề lớn với cộng đồng quốc tế bởi những gì họ làm với người Palestine. Một cuộc điều tra của BBC vào tháng Năm 2014 cho thấy Israel, Bắc Triều Tiên, Pakistan và Iran là bốn nước có hình ảnh tệ nhất trong con mắt thế giới. Sự ác cảm tới từ cả hai phía. Năm 2010, 77% người Israel cho rằng bất kể họ làm gì thế giới cũng sẽ phê phán họ. Nêu ra những chuyện bên trên không phải để chúng ta trở nên kiêu ngạo, cho rằng “họ cũng không hơn gì ta”, hay “người Việt được thế là tốt lắm rồi”, hay “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, thậm chí miệt thị “Tây ngố”, như các du học sinh Đông Âu thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước vẫn làm trong khi ăn học ở nước họ. Khao khát học hỏi từ những văn hóa khác là một việc tốt và cần thiết. Nhưng thái độ tôn sùng nước ngoài của chúng ta hiện nay đang ẩn chứa nhiều vấn đề. Nó thực ra đang cản trở việc học hành của chúng ta, đóng mắt chúng ta lại, thay vì mở ra.

Sùng bái Mỹ, Nhật và Do Thái trước hết hàm ý ngầm một thái độ phân biệt chủng tộc và kỳ thị. “Anh từ châu Phi tới ư,” chúng ta thầm nói với bản thân khi đứng trước một người da màu, “nước các anh cũng nghèo, các anh cũng vứt rác ra đường và bấm còi inh ỏi? Vậy các anh không có gì để chúng tôi học cả.” Thái độ này khiến chúng ta bỏ qua những kho báu của nhân loại. Thật đáng tiếc cho những ai vì nhìn thấy 500 triệu người Ấn Độ hiện vẫn thích ra ngoài đồng hơn là ngồi trong toa lét, mà cho rằng nền văn hóa Ấn Độ không có gì để dạy họ. Bao nhiêu người trong chúng ta biết rằng Lebanon, một đất nước mà ta không biết gì về nó, đã đóng góp cho thế giới nhà thơ thiên tài Khalil Gibran, tác giả được đọc nhiều nhất trên thế giới chỉ sau Shakespeare, và tác phẩm Nhà tiên tri của ông cho chúng ta những suy ngẫm tuyệt vời về tình yêu, hôn nhân, niềm vui và nỗi buồn, học và dạy học, tình bạn, khoái cảm, đau đớn, cái đẹp, tôn giáo và cái chết? Tôi cho rằng chúng ta bị hút hồn bởi Mỹ, Nhật và Do Thái vì thực chất chúng ta chỉ quan tâm làm thế nào để trở nên giàu có, mặc dù chúng ta tự nhủ là muốn học để trở thành văn minh. Bởi nếu muốn học để biết phải sống như thế nào, chúng ta có thể học được nhiều lắm, từ bất cứ quốc gia hay dân tộc nào. Chúng ta có thể học từ lòng dũng cảm của những người Mẹ trên quảng trường de Mayo, Argentina, những người trong thập kỷ 70 đã thách thức chính quyền quân đội độc tài phải giải thích về sự biến mất của hàng ngàn con trai họ. Chúng ta có thể học từ những sinh viên Myanmar năm 1988, khi họ đứng lên phản đối chế độ quân chủ. Chỉ cần giảm một nửa số lượng bài báo ca ngợi cái sạch sẽ của người Nhật, cái lịch sự của người Mỹ, thay vào đó là những ví dụ trên, thì thế giới của chúng ta đã phong phú và giàu có lên biết bao nhiêu.

Ngay cả từ phương Tây, Nhật và Do Thái, chúng ta cũng tiếp tục phải học, nhưng không chỉ từ chuyện không vượt đèn đỏ hay không vứt rác ra đường vẫn hay được thường xuyên nhắc tới. Chúng ta có thể rút ra bài học vì sao hàng chục triệu người Đức, chỉ cách đây có 60 năm thôi, lại có thể mê muội đi theo một học thuyết diệt chủng và tuân thủ người cầm đầu của họ như chưa bao giờ một dân tộc tuân thủ lãnh tụ của mình như vậy. Và chúng ta có thể học từ những vất vả và đau đớn mà người Đức đã trải qua trong sáu thập kỷ qua để xây dựng nền dân chủ của mình. Khi xây dựng lại nhà Quốc hội ở Berlin bị tàn phá trong chiến tranh, sau khi thống nhất Đông và Tây Đức, người ta tìm thấy, và quyết định bảo quản các grafitti tiếng Nga của những người lính Hồng quân Liên xô trên tường. Nhà báo George Packer của The New Yorker chỉ ra rằng không một quốc gia nào khác trên thế giới trưng bày bút tích của kẻ chinh phục mình trong tòa nhà quan trọng nhất đất nước. Không học từ đấy thì học từ đâu? Trong các buổi tối của mùa hè 2014, người dân tỉnh lỵ Sderot, Israel, đem ghế nhựa và sofa lên một ngọn đồi. Họ uống soda, ăn bỏng ngô, vừa chuyện trò vui vẻ vừa cùng nhìn về chân trời. Đều đặn, khi chân trời sáng rực lên, người ta reo mừng và vỗ tay. Đó là những lúc bom và tên lửa của Israel đáp xuống dải Gaza của người Palestine. Chỉ trong vài tuần, các đợt oanh tạc này đã giết chết gần 1800 người Palestine, trong đó có hàng trăm trẻ em. Tối tối, những người dân Sderot ngắm màn mưa tên lửa như đang xem một bộ phim. Tôi tự hỏi, sự căm thù phải lớn tới mức nào để có thể làm chai sạn trái tim của những người đàn ông, đàn bà, người già Do Thái này

, và họ sống ra sao khi bên trong họ có nhiều sự thù hận tới mức họ bị mất tính người như vậy. Vì sao những con người có bề dày văn hóa đến như thế lại trở nên cơ sự này, và liệu có cơ may nào chuyển hóa được lòng hận thù độc địa ấy.

Người Do Thái có quá nhiều bài học cho chúng ta về bản chất con người, nếu như chúng ta chịu khó nhìn rộng ra ngoài “cái tủ sách rắc nước hoa” của họ. Mỗi đất nước, dân tộc, văn hóa, thậm chí mỗi cá nhân là một vũ trụ phức tạp, chứ không phải những nhân vật của một vở kịch tuyên truyền thô thiển: người này giỏi, người kia kém, trắng đen rõ ràng và bất biến. Thách thức trong quá trình học hỏi là nhận biết được sự phức tạp, những xung đột, những chấn thương, những năng lượng, những bế tắc của một quốc gia, của một nền văn hóa, dù nó là Pháp hay Campuchia. Ngược lại, càng mù quáng, tôn sùng vô điều kiện một ai đó, một cái gì đó, thì lại càng dễ thất bại. Và khi vỡ mộng, người ta lại càng vội vã tuyên bố phải “thoát” nó ngay lập tức, để chạy tới tôn thờ một cái mới. Tâm thế đó là tâm thế của những kẻ mất tự do.

Nguồn: Sách 'Bức xúc không làm ta vô can', tác giả Đặng Hoàng Giang
 
Sự hồi sinh sống lại của một ngôn ngữ đến từ cõi chết

Đã hơn 3,000 năm trải qua các trang sử Do Thái, tiếng Hebrew đã từng chìm trong một giấc ngủ dài, nhưng rồi nó lại thức tỉnh. Tại sao ngôn ngữ Hebrew lại sống dai dẳng như thế ? Ngôn ngữ ấy được hồi sinh như thế nào ? Hãy tham gia với chúng mình vào chuyến hành trình lịch sử của tiếng Do Thái nhé.

Người Israel đánh dấu Ngày ngôn ngữ Do Thái mỗi năm vào sinh nhật của Eliezer Ben Yehuda cha đẻ tiếng Hebrew hiện đại.

Sự hồi sinh của ngôn ngữ Hebrew là một câu chuyện phi thường và có một không hai trong lịch sử nhân loại. Một ngôn ngữ có gốc rễ từ 3.000 năm trở lại đây, nó đã được hồi sinh sau nhiều thế kỷ đang ngủ yên giấc, và bây giờ nó đang hưng thịnh trong thế kỷ 21.

150 năm trước, tiếng Hebrew không phải là ngôn ngữ nói. Và cũng không phải là tiếng mẹ đẻ của bất cứ ai.

Ngày nay, hơn 9 triệu người nói tiếng Hebrew, và phần lớn là tiếng mẹ đẻ của họ.

Trong suốt thiên niên kỷ khi người Do thái vong quốc sau khi ngôi đền thứ hai bị phá hủy năm 70 CE, tiếng Hebrew vẫn còn sống trong các nghi thức phụng vụ và lễ nghi tôn giáo và như là một loại ngôn ngữ lingua franca của người do thái lưu vong. Ngôn ngữ viết Hebrew tiếp tục phát triển; đó là ngôn ngữ của văn thơ và ngôn ngữ giao tiếp giữa các vị học giả, những người đã viết sách về luật pháp và triết học bằng ngôn ngữ Hebrew. Mỗi thế hệ được khuyến khích học chữ bằng tiếng Hebrew để làm quen với các văn bản gốc và các nghi thức truyền thống của Do Thái Giáo. Nhưng, trong những năm ấy, ngôn ngữ Hebrew đã không còn là một ngôn ngữ sống, thiếu đi hơi thở trong cuộc sống đời thường, lối sống thế tục của mỗi cá nhân hay đời sống dân tộc.

Hình ảnh trang bìa tạp chí của người Do Thái ở quốc gia Israel

Người đàn ông nhìn xa trông rộng: Eliezer Ben-Yehuda

Eliezer Ben Yehuda chính là động lực đằng sau sự hồi sinh của ngôn ngữ cổ đại và sự chuyển đổi của nó thành ngôn ngữ hiện đại. Nhà ngôn ngữ học có tầm nhìn này, sinh ra ở Lithuania năm 1858, đã đến Israel năm 1881 với một ước mơ biến tiếng Hebrew thành một ngôn ngữ hiện đại và làm cho nó trở thành ngôn ngữ được sử dụng trong mọi gia đình ở Israel. Ông định cư ở Giêrusalem và cống hiến cuộc đời sự nghiệp của ông để thực hiện ước mơ của mình.

Ben Yehuda đã vận động để làm cho tiếng Hebrew trở thành ngôn ngữ được giảng dạy trong các trường học Israel, mở rộng vốn từ vựng Hebrew để có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội Israel hiện đại, tạo ra từ điển Hebrew hiện đại đầu tiên và biên soạn tờ báo tiếng Hebrew đầu tiên. Con trai đầu lòng của ông, Itamar Ben-Avi, là đứa bé trai đầu lòng trong thời hiện đại đã lớn lên trong tiếng Hebrew là tiếng mẹ đẻ.

Ben-Yehuda tạo những từ vựng mới từ cấu trúc Hebrew cổ đại để tạo ra hơn 300 từ vựng mới cho tiếng Hebrew hiện đại. Kể từ đó, đã có thêm hơn 15.000 từ mới và chúng ta vẫn đang tính.

Hình ảnh trên bìa tạp chí của người do thái sinh sống ở đất nước Israel

Các lớp màng của tiếng Hebrew: Xem xét lịch sử ngôn ngữ tiếng Hebrew

Ngôn ngữ Hebrew và lịch sử đặc biệt của nó là chìa khóa không thể thiếu được để hiểu rõ di sản lịch sử và văn hóa Israel. Giống như người Do thái, ngôn ngữ Hebrew đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử do sự phá hoại đền thờ Jerusalem của người La Mã cho đến việc thành lập Nhà nước Israel vào năm 1948.

Lịch sử sôi động của tiếng Hebrew có thể được chia ra thành ngũ giai đoạn chính:

1. Ngôn ngữ Hebrew thánh thư – Hơn 3.000 năm trước, khi dân Israel lần đầu tiên đến miền Đất Thánh, tiếng Hebrew được thành lập như một ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ Hebrew vẫn được sử dụng phổ biến, ngay cả trong thời kỳ vong quốc Babylon (686-534 TCN), trong hơn 1.500 năm, cho đến khoảng năm 400 CE, do sức ép gắn nặng của sự lưu vong rải rác tản lạc khắp nơi của người Do Thái sau khi đền thờ thứ hai bị phá hủy, tiếng Hebrew không còn được sử dụng trong cuộc sống đời thường. Tiếng Hebrew thánh kinh đã sống sót qua thời gian này (và quả thực đến ngày nay) qua vai trò của nó như là ngôn ngữ của phụng vụ và trong các văn bản tôn giáo.

2. Mishnaic Hebrew – Kinh thư Mishnah, tập hợp các luật Do Thái được viết bằng tiếng Hebrew, được biên tập trong thế kỷ đệ nhị Công nguyên. Vào thời điểm này chúng ta tìm thấy từ vựng mới và các câu ca dao thành ngữ đã được thêm vào ngôn ngữ.

3. Tiếng Hebrew Trung cổ – Vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất, đã có sự hồi sinh của tiếng Hebrew trong các cộng đồng người Do Thái trên toàn cầu khắp thế giới, với nghiên cứu ngữ pháp kèm theo sự xuất hiện của từ điển Hebrew đầu tiên. Trong thời kỳ vàng son của nền văn hoá Do thái ở Tây Ban Nha, văn thơ Do Thái được viết bởi các nhà thơ Do Thái có năng khiếu đã làm giàu thêm cho tiếng Hebrew hơn. Chính tại thời điểm đó tiếng Hebrew lại một lần nữa bắt đầu lan ra ngoài các lĩnh vực truyền thống là phụng vụ và học hành kinh sách tôn giáo.

4. Tiếng Hebrew Phục Hưng – Trong thế kỷ 15 và 16, sự phát triển công nghệ in ấn đã đóng góp cho tiếng Hê-bơ-rơ; ấn phẩm in ấn bằng ngôn ngữ Hê-bơ-rơ đầu tiên ở vùng đất thánh được thành lập ở Safed năm 1577.

Trong thời kỳ này và sau đó, nhiều học giả châu Âu đã cố gắng thiết lập tiếng Hebrew là “mẹ đẻ của tất cả các ngôn ngữ”. Họ đã từng tin rằng tiếng Hebrew là ngôn ngữ nguồn gốc mà từ đó phát triển ra tất cả các ngôn ngữ khác.

5. Tiếng Hebrew hiện đại – Vào thế kỷ 19, tiếng Hebrew đã trải qua một sự hồi sinh chưa từng thấy. Đây là thời gian của những nỗ lực và thành tựu của Eliezer Ben Yehuda. Nhiều tác giả và nhà thơ đã tham gia chiến dịch của ông và những nỗ lực của họ đã giúp mở ra một kỷ nguyên về sức sống và sự sáng tạo ngôn ngữ phong phú. Tiếng Hebrew đã trở thành ngôn ngữ chính thức của Quốc gia Israel vào năm 1948.

Kể từ ấy, khi đất nước Israel nuốt chửng hàng triệu người nhập cư và phải đối phó với vô số những thách thức trong việc xây dựng một nhà nước hiện đại, và gần đây hơn, với ảnh hưởng toàn cầu hoá và những thay đổi công nghệ to lớn, tiếng Hebrew hiện đại đã trở thành một ngôn ngữ năng động với từ vựng hơn 75.000 từ ngữ. Ngôn ngữ Hebrew bao gồm hơn 2.400 từ mới để thay thế cho các từ vựng của ngôn ngữ nước ngoài và các thuật ngữ gần đây mà ngôn ngữ cổ xưa chưa bao giờ có.

Ngôn ngữ cổ đại, kỷ nguyên mới

Sự hồi sinh của tiếng Hebrew thành một ngôn ngữ nói là một phần của năng lượng sáng tạo đã luôn luôn mô tả câu chuyện của tổ quốc Israel hiện đại. Ngôn ngữ Hebrew là một biểu hiện phong phú và hấp dẫn đầy sức sống của người dân Israel, đồng thời cũng là một mối liên kết sâu sắc giữa Kinh thánh và sự trẻ trung hóa ngày nay của người Do Thái ở quê hương cổ xưa của họ. Đây là câu chuyện về sự hồi sinh văn hoá quốc gia chưa từng có ở bất cứ nơi đâu. Và việc thực hiện một tầm nhìn chiến lược mà đối với một vài thế hệ trước có vẻ như là một giấc mơ điên rồ và bất khả thi.
Bảng chữ cái tiếng Hebrew của người Do Thái dựa trên ngôi sao David hay tấm khiên David, Bảng chữ cái ngôn ngữ Hebrew

+ YouTube Video
ERROR: If you can see this, then YouTube is down or you don't have Flash installed.


Nguồn https://vanhoacuanguoidothai.wordpress.com/2017/11/03/hebrew
 
Người Hoa Singapore Thông Minh Nhất Thế Giới

Dân tộc thông minh nhất nhân loại ( xin lỗi người do thái, không phải là bạn )

Với chỉ số thông minh IQ trung bình cao chót vót của người do thái lên tới 110 (chuẩn mực của người da trắng) và mức độ xuất hiện các nhân tài đáng kinh ngạc của người do thái trong số các tỷ phú và xuất hiện trên mặt truyền thông, tôi luôn coi những người Do Thái là nhóm dân tộc thông minh nhất trên trái đất. Nhưng gần đây tôi đã phát hiện ra rằng người Trung Quốc Singapore đã đánh bại người do thái, với chỉ số trí tuệ IQ trung bình đáng kinh ngạc của người Singapore Trung Hoa là 114.


Điều này có thể giúp giải thích tại sao Singapore được gọi là thành phố vĩ đại nhất thế giới với kiến trúc ngoạn mục.


Mặc dù người do thái có những thành tựu đáng kinh ngạc về tài chính và ngành kỹ nghệ phương tiện truyền thông đại chúng ở nước Mỹ Hoa Kỳ, điều đó có nghĩa là người Trung Hoa Singapore sẽ thông minh hơn người do thái, bởi vì sau tất cả các thành tựu mà người Do Thái đã nỗ lực cố gắng gây dựng nên, nhưng cuối cùng thì người do thái vẫn thuộc chủng tộc Caucasoids, và yếu tố này đã tạo ra giới hạn về trí thông minh di truyền của người do thái.

Mặc dù đã sản sinh ra nhiều nhân tài với trí thông minh vượt trội với tỷ lệ cao hơn trong cộng đồng người do thái Ashkenazi, cuối cùng thì người do thái cũng chỉ đạt được ngưỡng cao nhất của trí thông minh gen di truyền, giống như những con ngựa chạy đua phát huy hết tốc độ gien di truyền của nó vào năm 1970, nhưng không có bất cứ con ngựa nào mà có thể vượt qua được tốc độ nhanh nhẹn của giống ngựa Secretariat (theo lời nhận xét của Mugabe).

Con ngựa thì chỉ chạy nhanh nhất khả năng mà nó có thể , và một người thuộc chủng Caucasoid cũng chỉ có thể đạt được trí thông minh như vậy (mức trung bình) trước khi các căn bệnh di truyền và tác dụng phụ gây hiểm họa lớn bộc phát.

Để vượt qua những giới hạn này, bạn cần có một sự thay đổi lại nền tảng gene di truyền. Một đột biến lớn để thay đổi, biến con ngựa thành một con báo, biến một người Caucasoid thành một người Mongoloid.

Theo học giả J.P. Rushton, người Mongoloid đã tách ra khỏi chủng người Caucasoids cách đây hàng chục ngàn năm trước trong một hình dạng mới và được cải tiến.

Một lý thuyết khả thi, Rushton nói là, sự tiến hóa đang tiếp diễn, và một số quần thể của loài người thì tiên tiến hơn những nhóm người khác.


Mọi thứ đang trở nên tốt hơn theo thời gian. Chủng tộc người Mongoloids là phiên bản cuối cùng của nhân loại. Chủng tộc Mongoloid là phiên bản Mới nhất và cũng là phiên bản cuối cùng qua nhiều giai đoạn lâu dài sửa đổi. Là chiến thắng cuối cùng của nhiều thử nghiệm gian nan và nhiều sai lầm. Để diễn tả câu nói của Martin Luther King, vòm cung của sự tiến hóa là dài, nhưng uốn cong theo hướng hoàn hảo.


Nhìn chung, các nhóm dân tộc Mongoloid có chỉ số thông minh từ IQ 86 (Người Mỹ thổ dân da đỏ bản địa) đến chỉ số IQ thông minh là 114 (người Singapore Trung Quốc) cho thấy chỉ số IQ trí tuệ trung bình toàn cầu của người Mongoloid khoảng là 100.

Trong khi đó, các nhóm dân tộc Caucasoid có chỉ số thông minh dao động từ IQ 68 (người di gan) đến chỉ số trí khôn IQ 110 ( Người Mỹ gốc Do Thái ), cho thấy chỉ số IQ trí khôn trung bình toàn cầu của người Caucasoid là khoảng 89.

Nguồn pumpkinperson.com/2016/07/16/worlds-smartest-ethnic-group-sorry-jews-not-you
 
Các anh em dân tộc thiểu số Do Thái

Các anh em dân tộc thiểu số của người Do Thái

Người Do Thái không phải là một dân tộc thống nhất nhưng là một dân tộc có nhiều sắc tộc khác nhau. Mỗi sắc tộc Do Thái mang một nền văn hóa, truyền thống, và bản sắc dân tộc cũng rất khác nhau. Ngày nay, các biểu hiện của những khác biệt này giữa các sắc tộc người Do Thái có thể được quan sát thấy trong các biểu hiện văn hóa ở trong mỗi cộng đồng Do Thái, bao gồm sự đa dạng ngôn ngữ mà người Do Thái nói, sở thích ăn uống, các phong tục nghi lễ tôn giáo, các giải thích giáo lý Do Thái Giáo, và nguồn gốc gien di truyền.

Đa số người Do Thái thường chọn một trong hai nhóm sắc tộc chính của người Do Thái là người do thái Ashkenazi và người do thái Sephardi. Ashkenazi có nghĩa là người Đức (Ashkenazim số nhiều và Ashkenazi số ít) và trong tiếng Hebrew thì Ashkenaz có nghĩa là nước Đức, tên gọi Ashkenazim ám chỉ nguồn gốc thổ nhưỡng và bản sắc văn hóa Đức Do Thái.

Trong khi đó thì tên gọi Sephardim ám chỉ nguồn gốc thổ nhưỡng từ vùng bán đảo Iberia và bản sắc văn hóa Tây Ban Nha Bồ Đào Nha Do Thái. Danh từ Sephardim còn được áp dụng cho những người do thái Mizrahi ở Israel. Mizrahim nghĩa là người Do Thái phương Đông ám chỉ nhóm người Do Thái gốc Trung Đông và Bắc Phi. Vì lý do phong tục tập quán tín ngưỡng nên người do thái Mizrahi được gộp chung trong nhóm sắc tộc Sephardim mặc dù người do thái Sephardi và người do thái Mizrahi là hai sắc tộc khác biệt.

Ngoài hai nhóm sắc tộc Do Thái chính kia, thì còn có những nhóm sắc tộc Do Thái thiểu số khác như là các nhóm Ấn Độ Do Thái bao gồm Bene Israel, Bnei Menashe, Cochin Do Thái, và Bene Ephraim. Người Romaniotes của Hy Lạp; người Do thái Ý (“Italkim” hoặc “Bené Roma”); Teimanim từ Yemen; những nhóm người Do Thái Châu Phi khác nhau, trong đó có nhiều nhất là Beta Israel của Ethiopia; và người Trung Hoa Do Thái, nổi bật nhất là người Khai Phong Do Thái, cũng như các cộng đồng khác biệt nhưng bây giờ gần như tuyệt chủng.

Người Do Thái Sephardi



Sephardi có nghĩa là Tây Ban Nha hay Hispanic có nguồn gốc từ danh từ Sepharad là một địa danh trong Kinh Thánh. Người do thái Sephardi là những người Do Thái thuộc dòng dõi của những người Do Thái đã từng sống ở Bán đảo Iberia vào cuối thế kỷ 15. Vì lý do tôn giáo người Do Thái Sephardi phải di cư rời khỏi Tây Ban Nha vào năm 1492. Con cháu hậu duệ dòng dõi của những người Do Thái này cho dù có sinh ra ở bất cứ nơi đâu vẫn được gọi là người Do Thái Sephardi. Mặc dù những người Do thái này được trục xuất rời khỏi Bán đảo Iberia, những người Do Thái này lưu vong tìm những nơi trú ẩn mới như Maghreb, Ai Cập, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Đất Thánh, Hà Lan, và Tân Thế Giới.

Người Do Thái Sephardi nói ngôn ngữ Ladino hay tiếng Do thái Tây Ban Nha, những người Do Thái Sephardi có phong tục tập quán và văn hóa truyền thống và nghi thức tôn giáo Do Thái riêng của họ.

Người Do Thái Mizrahi



Người do thái Mizrahi hay còn gọi là người do thái phương Đông là những người do thái có nguồn gốc từ những cộng đồng người Do thái ở vùng Trung Đông từ thời kỳ thánh kinh cho đến đương đại. Họ là hậu duệ của những người Do Thái Babylon, và các bộ tộc người do thái vùng thượng mà ngày nay bao gồm những quốc gia như Iraq, Syria, Bahrain, Kuwait, Dagestan, Azerbaijan, Iran, Uzbekistan, Caucasus, Kurdistan, Afghanistan, Ấn Độ và Pakistan.

Trước khi hồi sinh quốc gia Israel hiện nay, thì người Do Thái Mizrahi không xác định bản thân họ là một nhóm Do Thái riêng biệt. Thay vào đó, người Do Thái Mizrahi thường coi chính bản thân họ là Sephardi, vì họ theo phong tục truyền thống tôn giáo của Do thái giáo Sephardi.

Một nghiên cứu do Cục Thống kê Trung ương Israel (ICBS) tiến hành, những người Do Thái Mizrahi ít có khả năng theo học đại học hơn so với người Do Thái Ashkenazi. Những người Do Thái Ashkenazi sinh ra ở Israel có khả năng theo học đại học cao gấp hai lần so với người Do Thái Mizrahi ở Israel. Hơn nữa, tỷ lệ người Do Thái Mizrahi theo đuổi sự nghiệp học vấn tại đại học vẫn còn rất thấp so với các nhóm di dân thế hệ thứ hai có nguồn gốc từ người Do Thái Ashkenazi, chẳng hạn như người Nga. Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Adva, thu nhập trung bình của người Do Thái Ashkenazi cao hơn 36% so với thu nhập trung bình của người Do Thái Mizrahi năm 2004.

Người Do Thái Ashkenazi



Người Ashkenazi Do Thái chiếm phần lớn đa số dân số người Do Thái hiện đại, với ít nhất 70% người Do Thái trên toàn thế giới (và lên đến 90% trước Chiến tranh thế giới II và Holocaust). Do sự di cư của họ từ châu Âu, Ashkenazim cũng đại diện cho phần lớn người Do Thái ở các lục địa Thế giới Mới, ở các quốc gia như Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Á Căn Đình, Úc và Brasil. Hiện nay thì cộng đồng người Do Thái ở nước Mỹ Huê Kỳ chủ yếu là Người Ashkenazi Do Thái chiếm 90% tổng dân số người Do Thái ở nước Hoa Kỳ Mỹ. Ở xứ Phú Lãng Sa, sự nhập cư của người Do Thái từ Algeria (Người Do Thái Sephardi) đã dẫn họ vượt qua người Do Thái Ashkenazi.

Tại Hoa Kỳ thì người Ashkenazi Do Thái chỉ chiếm khoảng 2% dân số Hoa Kỳ bao gồm người gốc Ashkenazi Do Thái cả cha và mẹ. 27% người Mỹ đoạt giải Nobel trong thế kỷ 20 là người Ashkenazi Do Thái, 25% người chiến thắng Huy chương Fields và 25% người chiến thắng giải ACM Giải Turing cũng là người Ashkenazi Do Thái.

Tại Israel thì người Do Thái gốc Ashkenazi chiếm khoảng 47,5% tổng dân số người Do Thái ở Israel (và do đó người Do Thái gốc Ashkenazi chiếm 35-36% tổng dân số người Israel). Người Do Thái Ashkenazi đã đóng một vai trò rất lớn và nổi bật trong nền kinh tế, truyền thông và chính trị của quốc gia Israel kể từ khi đất nước Israel hiện đại từ trong giai đoạn trứng nước cho đến khi được thành lập. Các đời tổng thống Israel từ khi quốc gia này được thành lập năm 1948 cho đến hiện này đều là người Ashkenazi Do Thái.

Chỉ số trí thông minh IQ trung bình của người Ashkenazi Do Thái đã được tính toán là 112-115 (Cochran et al.) Nguồn https://vanhoacuanguoidothai.wordpress.com/2017/11/16/group/



Theo Wikipedia Việt Nam
 

Facebook

Top