What's new

Dịch cuốn MOLECULAR BIOLOGY PROBLEM SOLVER

hic hic...mọi người ai cũng dịch gần xong hết rồi, em dạo này bận rộn với thí nghiệm và thi cử nên không thể hoàn thành đúng thời hạn được. Xin được phép dời đến 15/1. Mong mọi người thông cảm.
Thanks.
Khon.
 
Phù em dịch sắp xong rồi còn 5 trang nữa là ok bản dịch thô nhưng mà thang 1 này em thi học kỳ mật rồi nên em xin gia hạn lại cuối thang 1 nghe chắc là khoảng 30-01-2008. Em xin cám ơn.
 
Chào các anh chị trong diễn đàn,

Em thành thật xin lỗi mọi người vì sự chậm trễ. Thời gian vừa qua em bị bệnh nên không thể hoàn tất bài dịch theo đúng thời gian. Mong các anh chị thông cảm và cho em gia hạn thêm thời gian để hoàn tất. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong thời gian sớm nhất.

Nhân dịp năm mới, em chúc quý anh chị và gia quyến luôn luôn vui vẻ, hành phúc, an khang và thịnh vượng

Phượng Uyên
 
về việc dịch tài liệu

Chào các anh chị trong diễn đàn,

Em thành thật xin lỗi mọi người vì sự chậm trễ. Thời gian vừa qua em bị bệnh nên không thể hoàn tất bài dịch theo đúng thời gian. Mong các anh chị thông cảm và cho em gia hạn thêm thời gian để hoàn tất. Em sẽ cố gắng hoàn thành trong thời gian sớm nhất.

Nhân dịp năm mới, em chúc quý anh chị và gia quyến luôn luôn vui vẻ, hành phúc, an khang và thịnh vượng

Phượng Uyên
 
CÂN VÀ ĐĨA CÂN(Trevor Troutman)

Cân và đĩa cân được mô tả như thế nào?

Cân được xếp vào nhiều loại. Top-loader là những cân với khả năng có thể đọc được là 0.001 hay 1mg hay hơn, trong đó khả năng đọc được là tín hiệu thấp nhất có thể quan sát được trên màn hình. Cân phân tích là dụng cụ đọc tới 0.1 mg. Cân bán vi đọc tới 0.01mg. Vi cân là 1g. Cuối cùng, siêu vi cân là 0.1g.

Làm thế nào mà tính chất của một mẫu và môi trường trực tiếp có thể ảnh hưởng tới sự tái sinh khối lượng?
Độ ẩm
Hơi ngưng tụ tạo thành trên chất phản ứng khi không được giữ kín gió trong khi chúng cân bằng với nhiệt độ phòng. Độ ẩm tương tự cũng sinh ra nếu không đưa mẫu đạt tới nhiệt độ của dụng cụ cân. Điều này là đặc biệt khó giải quyết khi cân lượng mẫu rất nhỏ. Bản thân chính bạn, nhà nghiên cứu, cũng là một nguồn ẩm có thể truyển một cách khá dễ dàng sang mẫu qua dấu vân tay hay các chất dầu cơ thể.

Sức nâng của không khí

Gần giống như nước giữ một số vật nổi, các mẫu có thể được nâng lên bởi không khí, làm giảm một cách nhân tạo khối lượng thực. Sức nâng này có thể gây ảnh hưởng đáng kể lên các mẫu nhỏ.

Lực tĩnh điện
Lực tĩnh điện hầu hết luôn có mặt tại bất kỳ môi trường nào, đặc biệt trong những khu vực có độ ẩm thấp. Nếu lượng điện tích đáng kể có mặt trong mẫu cân trong thiết bị có độ chính xác cao, nó sẽ tự chứng tỏ bằng các số liệu bị làm lệch, làm tăng hoặc giảm không ngừng, hay không thể tạo ra kết quả. Sự biến đổi xảy ra khi những lực điện này có trong mẫu và những phần cố định của cân mà không có liên kết với đĩa cân. Những chất có độ dẫn điện thấp (như thủy tinh, nhựa, vật liệu lọc, và một số chất bột hay chất lỏng nào đó) mất điện tích chậm, kéo dài thời gian cân.
Điện tích hầu như sinh ra khi vận chuyển và xử lý mẫu. Thí dụ bao gồm sự ma sát với không khí trong lò tối ưu, ma sát giữa tấm lọc và bề mặt khi tiếp xúc, ma sát trong giữa chất bột và chất lỏng trong quá trình vận chuyển, và sự truyền trực tiếp của các phần tử tích điện từ người. Sự tích điện này được ngăn chặn tốt nhất bằng cách sử dụng lồng Faraday, mà cung cấp lưới chắn bảo vệ không gian trong bản kim loại. Điều này giải thoát môi trường bên trong khỏi vùng tĩnh điện. Một vật kim loại có thể dùng với mục đích tương tự. Việc bọc trong kim loại thiết bị chứa chất phản ứng cũng có thể giảm sự tích điện. Đối với những mẫu không hút ẩm, việc bổ sung nước để làm tăng độ ẩm bên trong buồng chứa có thể giảm điện tĩnh điện. Đồng thời là việc đặt một cốc với càng nhiều nước càng tốt vào buồng chứa. Một đường hướng khác là bắn mẫu với ion mang điện tích trái dấu, như được tạo ra bởi máy ion hóa và máy phát xạ polonium có chi phí cao. Một giải pháp đơn giản và hiệu quả là đặt một cốc nghịch chuyển lên đĩa cân, và sau đó đặt mẫu cân vào trong cốc nghịch chuyển đó. Chiến lược này làm tăng khoảng cách giữa mẫu và đĩa cân, do đó làm yếu đi bất kỳ ảnh hưởng điện nào.
 
Từ hôm nay 15.2 em sẽ post bài dịch của mình lên diễn đàn để sửa. Do...mỗi tuần chỉ được một đoạn như trên.
Bài dịch của em bắt đầu từ chương 4. Tiếp theo sẽ đến chương 13, 14.
Mong nhận được sự góp ý của mọi người. Chân thành cảm ơn,
Nhâm Ngọc
 
Nhiệt độ
Sự làm thoáng khí tại phòng thí nghiệm hay bật máy sưởi cho lần đầu tiên mỗi khi giao mùa có ảnh hưởng sâu sắc lên cân phân tích. Những thành phần của hệ thống cân có kích thước và thành phần vật liệu khác nhau, và có tốc độ khác nhau trong sự thích nghi với các thay đổi nhiệt độ. Khi cân mẫu, đáp ứng biến đổi theo nhiệt độ này sinh ra tín hiệu không tin cậy. Người ta đề nghị nên giữ nhiệt độ ổn định tại mọi thời điểm trong môi trường chứa thiết bị cân. Cần cân bằng thiết bị trong 24 giờ khi nhiệt độ phòng thay đổi.
Khi cân mẫu, đáp ứng biến đổi theo nhiệt độ này sinh ra tín hiệu không tin cậy. Người ta đề nghị nên giữ nhiệt độ ổn định tại mọi thời điểm trong môi trường chứa thiết bị cân. Cần cân bằng thiết bị trong 24 giờ khi nhiệt độ phòng thay đổi.

Dòng không khí và gió
Tốc độ của dòng không khí xung quanh thiết bị cân nên được giảm thiểu để có một kết quả nhanh và ổn định. Nên cần một tấm chắn gió (glass cylinder trụ thủy tinh - buồng kính) khi cân một lượng có thể đọc được (readability) 1mg. Cần một buồng kín gió nếu là 0.1mg. Kích thước của tấm hay buồng chắn này nên càng nhỏ càng tốt để loại trừ dòng đối lưu bên trong, từ đó giảm thiểu sự biến đổi nhiệt độ và những vấn đề trong khoảng không gian chắn.

Lực từ và mẫu từ tính
Lực từ được tạo ra khi mẫu bị nhiễm từ hay có khả năng có từ tính, có nghĩa là trong mẫu có chứa một lượng sắt, coban, hay niken. Sự giảm khả năng tái sinh kết quả (reproducibility) sẽ tự chứng minh ảnh hưởng từ này. Nhưng không như lực tĩnh điện, lực từ có khả năng tạo ra kết quả đo ổn định. Sự thay đổi hướng của từ trường liên quan tới hệ thống cân (như việc di chuyển mẫu phản ứng) gây ra kết quả không thể tái sinh.
Do đó, khó xác định ảnh hưởng từ trừ khi một mẫu đó được cân hơn hơn một lần. Để có thể làm mất tác dụng lực từ này, hãy đặt một cốc nghịch chuyển hoặc một tấm gỗ giữa mẫu và bàn cân. Một số thiết bị có một cái móc sử dụng để hút mẫu từ tính nằm dưới bàn cân ở một khoảng cách an toàn để loại trừ ảnh hưởng từ.

Sự nghiêng trọng lực
Cân phải được đặt phẳng khi thực hiện việc cân đo trên bàn cân. Trọng lực hoạt động tại hướng thẳng vào tâm trái đất. Do đó, nếu quả rọi ( weigh cell ) không được đặt theo hướng này, cân sẽ cho kết quả có phần nhỏ hơn. Ví dụ, khi chúng ta cân một mẫu 200g nghiêng một góc 0.2865 o (góc =a) so với mặt phẳng. Chúng ta sẽ có
Trọng lượng thực = Trọng lượng * cos a
Trọng lượng thực = 200 * cos 0.2865= 199.9975g
Kết quả này đã lệch đi 2.5mg. Đây là một lượng đáng kể khi làm việc với các mẫu phân tích.
 
Bài dịch của mình đây!

Mình nhận dịch chương 16: EUKARYOTIC EXPRESSION. Hiện đã hoàn thành bản dịch thô và đang trong thời gian chỉnh sửa bản dịch. Hôm nay tải bài lên từ từ để các thành viên cùng mổ xẻ để em nó dịch hay hơn.

Chương 16: BIỂU HIỆN GEN Ở SINH VẬT NHÂN THẬT

PHẦN A: HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH BIỂU HIỆN GEN Ở SINH VẬT NHÂN THẬT<O:p</O:p
Biểu hiện gen tái tổ hợp ở hệ thống sinh vật nhân thật thường là con đường sống còn duy nhất để sản xuất các protein được sửa đổi sau dịch mã với quy mô lớn. Tìm kiếm hệ thống thích hợp để biểu hiện quá mức bất kỳ sản phẩm gen nào đang ngày càng trở nên dễ dàng hơn, miễn là chúng đã được biến nạp hoàn hảo vào vector biểu hiện thích hợp. Các hệ thống biểu hiện thương mại sẵn có đã mang lại nhiều khả năng lựa chọn biểu hiện gen ở động vật hữu nhũ, côn trùng và ký chủ nhân thật bậc thấp, mỗi hệ thống đều khẳng định khả năng biểu hiện cao nhất nhưng ít tốn công sức nhất. Thật vậy, các hệ thống làm cho chúng dễ sử dụng và nhanh hơn nhiều công nghệ có sẵn khác trong khoảng 5 – 10 năm trước. Ngoài ra, các phương pháp chuyển <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com
DNA</st1:stockticker> vào tế bào đã được nâng cấp, song song là hiệu quả chuyển gen đang đạt đến mức 100%. Tuy nhiên, vẫn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng xem hệ thống ký chủ và vector nào là thích hợp nhất. Hai yếu tố này phải tương hợp với từng yêu cầu biểu hiện gen riêng biệt. Việc này phụ thuộc chủ yếu vào loại protein được biểu hiện (ví dụ: dạng chất tiết, dạng liên kết màng hay dạng nội bào) và ý định sử dụng chúng. Không một hệ thống nào có thể hoặc nên được mong đợi là có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu về biểu hiện gen.

<O:p</O:p
Trong phần này chúng tôi sẽ cố gắng vạch ra những bước then chốt liên quan đến việc lập kế hoạch và tiến hành thành công các đề tài về biểu hiện gen. Việc lập kế hoạch cho các đề tài sẽ bắt đầu bằng việc trả lời các câu hỏi đi thẳng vào vấn đề như đã biết gì về protein sẽ được biểu hiện, chức năng của protein là gi, mục đích sử dụng là gì, có đánh dấu protein hay không, cần bao nhiêu protein và cần protein sớm hay muộn. Dựa trên những mối quan tâm này, một hệ thống vector và ký chủ có thể được chọn và đáp ứng tốt nhất tất cả các yêu cầu được đặt ra trước đó.
<O:p</O:p
Những xem xét trong thời gian thực hiện đề tài sẽ bao gồm chọn lựa phương pháp chuyển gen tốt nhất và biện pháp chọn lọc ổn định tốt nhất so với phương pháp biểu hiện gen và chọn lọc tạm thời để chọn các dòng tế bào ổn định, và chọn lòng dòng vô tính so với phương pháp chọn lọc đa dòng. Cuối cùng chúng ta sẽ thảo luận những lợi ích dự kiến của các phương pháp khác nhau, những vấn đề thường gặp phải và những biện pháp có thể giải quyết những vấn đề này.<O:p</O:p
 
Em nhận dịch chương 6. Bây giờ em pót lên bài dịch hy vọng mọi người có thể góp ý sửa lại nhựng gì không đúng dùm theo để em có thể hoàn thành bản dịch em xin cám ơn.


Chương 6: Làm việc an tòan với những chất phóng xạ.<O:p</O:p



Cấp phép và đăng ký à143<O:p</O:p
Bạn có cần một giấy phép đăng ký sử dụng chất phóng xạ không? à143<O:p</O:p
Bạn nên liên lạc với ai để xin giấy phép đăng ký sử dụng chất phóng xạ? à144<O:p</O:p
Lựa chọn và sắp xếp đồng vị phóng xạ à144<O:p</O:p
Những chất hóa học phóng xạ nào thích hợp cho việc nghiên cứu? à144<O:p</O:p
Lượng phóng xạ mà bạn nên mua? à147<O:p</O:p
Lúc nào nên sắp xếp những chất phóng xạ? à148<O:p</O:p
Cách tính lượng còn lại của các chất phóng xạ à148<O:p</O:p
Có thể sử dụng chất phóng xạ được bao lâu sau hạn sử dụng? à149<O:p</O:p
Bạn có được cho thêm chất phóng xạ để bù vào lượng đã quá hạn sử dụng? à150<O:p</O:p
Vận chuyển những chất phóng xạ đang sử dụng à150<O:p</O:p
Khi vận chuyển các chất phóng xạ đến nơi bạn cần làm những gì? à150<O:p</O:p
Kiểm tra toàn diện về tính phóng xạ ở bên ngoài lọ nhỏ đựng chất phóng xạ. Đây là công việc có nghĩa chăng? à151<O:p</O:p
Máy dò tìm tỉ lệ cao (count-rate) tìm thấy sự bức xạ ở phía ngoài một hộp đựng 1mCi <SUP>32</SUP>P được ghi là dATP. Phải chăng nó đã bị hư rồi? à152<O:p</O:p
Bạn thu được 250 microCi <SUP>32</SUP>P và hộp chứa không ghi là chất phóng xạ. Có phải chăng điều này chính là một lỗi lầm nghêm trọng? à153<O:p</O:p
Trình bày thí nghiệm à153<O:p</O:p
Cách xác định nồng độ phân tử gam (Molarity) và khối lượng (Mass) trong lọ vật liệu? à153<O:p</O:p
Cách định lượng lượng phóng xạ trong các phản ứng của bạn. à155<O:p</O:p
Lưu trữ các vật liệu phóng xạ à156
Nguyên nhân làm giảm phẩm chất cùa chất hóa học phóng xạ à156
Làm gì để tăng thời gian sử dụng và hiệu lưc của chất phóng xạ à156
Sự ổn định của các acid nucleid và các protein được đánh dấ`u bằng phóng xạ là gì? à157
Chất thải phóng xạ: Quyền và nghĩa vụ của bạn đối với chất thải phóng xạ? à158
Sử dụng chất phóng xạ: Cố gắng sử dụng liều lượng phóng xạ thấp nhất à159
Cách xác định sự phơi nhiễm phóng xạ (radioactive exposure) và liều lượng cho phép à159
Công nghệ kiểm tra: Sự khác biệt giữa máy đếm tỉ lệ cao và dụng cụ đo tỉ lệ liều lượng à159
Các yếu tố cùa chến lược kiểm tra toàn diện có hiệu quả cao là gì? à161
Làm gì để đạt được liều lượng phóng xạ thấp nhất? à162
Tổ chức khu vực làm việc như thế nào để giảm thiểu sự phơi nhiễm đến lực phóng xạ? à164
Các tham khảo có cùng chủ đề à166
Phụ lục A: Các đặc tính vật lý thông thường
Nuclit phóng xạ (radionuclides) à166<O:p</O:p
Những thông tin trong những chương này được trình bày không phải như là một phần thay thế (replacement) mà là một phẩn bổ sung (supplement) cung cấp cho bạn những thông tin về những quy tắc làm việc trong cơ quan và/hoặc của bộ an toàn về bức xạ (radiation safety officer). Và trong những quy tắc đó ít nhất cũng có khoảng 10 quy tắc cơ bản quy định quá trình làm việc trong môi trường phóng xạ (Amerhsam Internetional, 1974):<O:p</O:p
1. Phải biết rõ sự nguy hiểm và nắm bắt được quá trình thực hành.<O:p</O:p
2. Lên kế hoãch trước mắt để giảm thiểu thời gian sử dụng vào việc nghiên cứu tính phóng xạ (handling radioactivity).<O:p</O:p
3. Giữ khoảng cách an toàn với nguồn với xạ ở một cự ly thích hợp.<O:p</O:p
4. Dùng những vật thích hợp che chắn sự bức xạ (radiation).<O:p</O:p
5. Chứa những chất phóng xạ trong một khu vực làm việc xác định.<O:p</O:p
6. Mặc những y phục và dụng cụ đo lường bảo vệ thích hợp.<O:p</O:p
7. Thường giám sát khu vực làm việc để có thể dễ dàng kiểm soát sự nhiễm xạ.<O:p</O:p
8. Tuân thủ những quy định của địa phương và an toàn trong khi làm việc.<O:p</O:p
9. Giảm lượng rác thải vức đi và còn tồn đọng lại một các thấp nhất thông qua những cách xử lý thích hợp.<O:p</O:p
10. Sau hoàn tất công việc, kiểm tra bản thân; sau đó vệ sinh sạch sẽ và kiểm tra lại để đảm bảo mình đã được cách ly an toàn với những chất phóng xạ.<O:p</O:p
Cấp giấy đăng ký và giấy phép sử dụng<O:p</O:p
Bạn cần giấy phép đăng ký sử dụng nghiên cứu những chất phóng xạ không?<O:p</O:p
Bất cứ loại giấy đăng ký nàò cũng đều được cấp bởi Hội đồng điều tiết hạt nhân ( Nuclear Regulatory Commission), nhưng mỗi cơ quan chỉ được cấp một giấy phép mà thôi để điều chỉnh, quy định cách sử dụng toàn bộ đồng vị phóng xạ của cơ quan đó. Thông thường, những giấy phép khác nhau không được cấp cho các bộ, ngành hoặc các cá nhân khác nhau tại cơ quan đó. Tuy nhiên, khi một người hiện đang làm việc với những chất phóng xạ tại một công ty có giấy phép thì phải có wá trình rèn luyện và sự đồng ý được sử dụng những vật liệu phóng xạ. Nên nhớ rằng một số nước có quyền kiểm soát phóng xạ lớn hơn NRC. Thêm vào đó, trong bản hiệp định ký kết giữa các nước, NRC đòi hỏi phải có được sự điều chỉnh và giám sát của một cơ quan nhà nuớc. <O:p</O:p
Các trường Đại Học, cơ quan chính phủ, hoặc khu công nghiệp thường được cấp giấy phép sử dụng nuclit phóng xạ (radionuclide) dưới dạng Loại giấy đăng ký A với mức phạm vi rộng (Type A License of Broad Scope) (U.S. Sách hướng dẫn điều chỉnh của hội đồng điều tiết hạt nhân 1980). Đây là giấy chứng nhận toàn diện nhất có thể dùng cho một cơ quan. Nó đòi hỏi rằng cơ quan đó cần có một hội đồng bảo an về bức xạ, một giới chức được bổ nhiệm để đảm bảo an toàn bức xạ, và lớp bảo vệ bức xạ chắc chắn và những thủ tục huấn luyện. Những nhà nghiên cứu muốn sử dụng nuclit phóng xạ trong nghiên cứu phải đưa ra đề xuất đến hội đồng bảo an bức xạ và được sự đồng ý của hội đồng trước khi tiến hành thí nghiệm.<O:p</O:p
Có nhiều loại giấy phép do NRC cấp hoặc do sự thỏa thuận giữ các nước. Chẳng hạn như: có những giấy phép về chất phụ phẩm riêng biệt trong phạm vi giới hạn, những giấy phép riêng biệt trong phạm vi rộng, những giấy phép về nguồn gốc hoặc những vật liệu hạt nhân đặc biệt, hoặc những giấy phép về những nguồn chiếu xạ tới hàng kilocurie (U.S. Sách hướng dẫn điều chỉnh của hội đồng điền tiết hạt nhân 1980). Những nguyên phụ phẩm là những nuclit phóng xạ (radionuclide) được hình thành trong quá trình phản ứng. Những nuclit phóng xạ được dùng phổ biến là <SUP>32</SUP>P, <SUP>33</SUP>P, <SUP>35</SUP>S, <SUP>3</SUP>H, <SUP>14</SUP>C, và <SUP>125</SUP>I, tất cả đều là những nguyên phụ phẩm. Việc cấp giấy phép về nguyên phụ phẩm đề cập chi tiết ở cuốn 10, Bộ luật quy định liên bang (Code of Federal Regulations), phần 30, Những quy định về khả năng ứng dụng phổ biến cho việc cấp phép sử dụng những chất liệu phụ phẩm (Rules of General Applicability to Licensing of By-product Material) (10CFR Part 30), và 10 CFR phần 33, những giấy phép nội bộ riêng biệt về những chất liệu phụ phẩm trong phạm vi rộng (10CFR Part 33).<O:p</O:p
Để biết thêm thông tin, bạn có thể tham khảo ấn bản gần đây của NRC: Consolidated Guidance about Materials<O:p></O:p>
Licenses. Program-Specific Guidance about Academic Research and Development, and other Licenses of Limited Scope. FinalReport ffice:smarttags" />lace>U.S.</ST1:place> Regulatory Commission, Office of Nuclear MaterialSafety and Safeguards. NOREG-1556, Vol. 7. M. L. Fuller, R. P.Hayes,A. S. Lodhi,G.W. Purdy,December 1999. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin trên Web site của NRC www.NRC.gov . Ban quản lý năng lượng nguyên tử, hoặc AECB, chi phối phóng xạ được sử dụng ở <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:place>Canada</ST1:place></st1:country-region>. Web site của họ là www.aecb-ccea.gc.ca. <O:p</O:p
Bạn liên lạc với ai để bắt đầu quá trình cấp giấy phép sử dụng các nguyên liệu có tính phóng xạ?<O:p</O:p
Nếu bạn muốn sử dụng các nguyên liệu phóng xạ trong quá trình nghiên cứu, bạn cần trở thành người được ủy quyền. Đầu tiên, bạn nên quyết định một số thứ đại loại như loại đồng vị phóng xạ mà bạn cần, lượng chất phóng xạ, những phương pháp hủy chất phóng xạ và khoảng thời gian sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Sau đó trình bày những thong tin này cho hội đồng hay ủy ban an toàn phóng xạ để họ có thể quyết định cho phép loại đồng vị phóng xạ mà bạn sử dụng phù hợp với giấy phép của cơ quan bạn. Nếu lời đề nghị được chấp nhận, bạn có thể tiến hành những yêu cầu đã được ghi rõ trong giấy phép của cơ quan bạn để trở thành người được ủy quyền sử dụng các nguyên liệu có tính phóng xạ trong phòng thí nghiệm như đã quy định.<O:p</O:p
Lựachọn và sắp xếp các đồng vị phóng xạ<O:p</O:p
Chất hóa học phóng xạ nào phù hợp nhất trong việc nghiên cứu?<O:p</O:p
Về khía cạnh của cơ quan.<O:p</O:p
Giấy phép của cơ quan bạn xác định những giới hạn riêng về loại và số lượng nuclit phóng xạ (radionuclide) cho phép tại cơ quan cùa bạn ( điều này bao gồm cả rác thải tại cơ quan đó ). Trước khi xác định rõ có bao nhiêu chất liệu mà bạn cần, thì bạn phải biết rằng bất kỳ lúc nào trong phòng thí nghiệm của mình được phép chứa bao nhiêu chất liệu đó. Sau đó bạn có thể có 1 ý nghĩ về việc đặt các chất liệu đó như thế nào trong khu vực làm việc tránh lực phóng xạ.<O:p</O:p
Về khía cạnh của bạn.<O:p</O:p
Ở đây có một số thông số quan trọng nhất để tham khảo khi quyết định đồng vị nào để sử dụng.<O:p</O:p
<O:p</O:p


Hình 6.1 Biểu đồ biểu diễn chất hóa học phóng xạ tại thời điểm hoạt tính đặc hiệu thấp và cao và trong trường hợp hoạt tính đặc hiệu cao đã được làm loãng. Từ cuốn sách hướng dẫn về sự tự phân hủy của các chất hoá học phóng xạ (Guide to the Self-Decomposition of Radiochemicals), Amersham International, plc, 1992, <ST1:place><st1:City>Buckinghamshire</st1:City>, <st1:country-region>U.K.</st1:country-region></ST1:place> Được tái bản dưới sự cho phép của Amersham Pharmacia Biotech. <O:p></O:p>
Nuclit phóng xạ, năng lượng, và loại phát xạ (alpha, beta, gamma, tia X, …). Trong các trường hợp bạn sẽ không có sự lựa chọn. Bạn sẽ chọn nuclit phóng xạ vì đặc tính mạnh mẽ và khả năng phản ứng của nó trong việc tham khảo các cuộc thí nghiệm chứ không phải vì sự phát xạ của nó. Mỗi nuclit phóng xạ có duy nhất quang phổ phát xạ của nó. Các quang phổ rất quan trọng trong việc xác định tính phóng xạ trong mẫu của bạn như thế nào. Điều này sẽ được tìm hiểu vào cuối chương này.<O:p</O:p
Hoạt tính đặc hiệu và sự tập trung phóng xạ.<O:p></O:p>
Sự phóng xạ riêng và sự tập trung phóng xạ cao nhất có xu hướng tốt nhất khi phần lớn các phân tử phóng xạ được đặt trong một khối lượng và thể tích xác định (hình 6.1). Nhưng bây giờ lại có 2 sự ngừng kiện (caveat) cho ý tưởng này. Đầu tiên là khi bạn tăng độ phóng xạ riêng, thì bạn giảm được sự tập trung phân tử gram của phân tử mà bạn muốn. Phân tử này sẽ trở thành thuốc thử xác định giới hạn và có thể làm chậm lại hoặc kìm hãm quá trình phản ứng. Sự nguy hiểm thứ 2 là tại lúc độ phóng xạ riêng ở mức độ cao và/hoặc những sự tập trung phóng xạ, thì tốc độ của sự phân giải phóng xạ sẽ tăng lên. Các thông số này sẽ được tìm hiểu sâu hơn nữa trong chương 14 : “Lai Nucleic Acid”.<O:p></O:p>
Lấy ví dụ, một phản ứng mồi ngẫu nhiên bình thường cần 50 microCi (1.85 MBq)* của dNTP <SUP>32</SUP>P (Feinberg and Vogelstein, 1983). Tại thời điểm độ phóng xạ riêng đạt được 3000 Ci/mmol, thì có 50 microCi chuyển sang 16.6 femtomole của dNTP <SUP>32</SUP>P được thêm vào phản ứng hòa tan, trong khi 50 microCi của một dNTP đã được đánh dấu <SUP>32</SUP>P lúc độ phóng xạ riêng đạt 6000 Ci/mmol sẽ chỉ thêm vào 8.3 femtomole cho phản ứng mà thôi. Nếu lượng dNTP được đánh dấu thêm vào không đủ, thì ta them vào một lượng nhỏ dung dịch nóng dNTP đề làm giảm quá trình phản ứng mồi, làm cho kết quả của máy dò có độ phóng xạ riêng thấp hơn chất có độ phóng xạ riêng là 3000 Ci/mmol.<O:p></O:p>
(*) Ở Mỹ, đơn vị dộ phóng xạ của “Curie” vẫn được sử dụng. Đơn vị trong cách sử dụng thông thường là Becquerel (Bq). Trong khi 1 Curie = 3.7 x 10<SUP>10</SUP> phân hủy trên giây (dps), và 1 Bq = 1dps. Chẳng hạn như để đổi picocuries (10<SUP>-12</SUP> Curies ) sang Becquerels, chia cho 27 (27.027): 50 microCi =50 x 10<SUP>-6</SUP> Ci =(50 x 10<SUP>-6</SUP> Ci x 3.7 x 10<SUP>10</SUP> dps/Ci) =1.85 x 10<SUP>6</SUP> dps =1.85 x 10<SUP>6</SUP> Bq = 1.85 MBq.)<O:p></O:p>
Đặt tên vị trí cho hợp chất.<O:p></O:p>
Xem xét nguyên nhân cho việc sử dụng phân tử phóng xạ. Có phải phản ứng đó thúc đấy sự dịch chuyển từ một nửa chất phóng xạ sang các phân tử sinh học, như là nucleic acid, peptide, protein? Có phải sự dị hóa trong cơ thể sống của các phân tử đang được nghiên cứu, có lẽ là ở trong một cuộc nghiên cứu ADME ( sự hấp thu, sự phân bố, sự trao đổi chất, sựbài tiết)? Hoặc đơn giản có thể các phân tử đã được định danh đang được sử dụng như là chất phóng xạ đánh dấu. Trong bất cứ trường hợp nào, thì những ảnh hưởng sau đây của việc đánh dấu vị trí được xem là quan trọng: Đầu tiên, có phải việc đánh dấu vị trí sẽ cho phép các phối tử đã được đánh dấu kết hợp chặt chẽ với nhau? Kế tiếp thông qua một lần liên kết, thì nó sẽ cho một kết quả mong muốn hay là không mong muốn? Chẳng hạn như, có phải sự có mặt của việc đánh dấu trong việc dò tìm acid nucleic sẽ cản trở khả năng dò tìm để lai với DNA gốc của nó không? Các vấn đề trên đây sẽ được đưa ra tìm hiểu trong chương 14: “Lai Nucleic Acid”.<O:p></O:p>
Có một số những phản ứng nơi mà vị trí đánh dấu không tới hạn. Cuộc xét nghiệm hấp thu Thymidine là một trường hợp. Việc đánh dấu sẽ làm việc có hiệu quả khi đồng vị Tritium có trên nhóm Methyl hoặc mạch vòng hay không. <O:p></O:p>
Hình thể và số lượng của phối tử phóng xạ.<O:p></O:p>
Thường thường nuclit phóng xạ có thể tồn tại trong các dung môi khác nhau. Hai mối quan tâm chính là hiệu quả của dung môi trong quá trình phản ứng hoặc thử nghiệm, và các vật liệu phóng xạ sẽ được sử dụng một cách nhanh chóng hay là vược quá một chu kỳ dài. Chẳng hạn như, một hợp chất đã đánh dấu phóng xạ được cung cấp trong benzene hay toluene không thể nào được đưa trực tiếp vào trong các tế bào hay vào quá trình phản ứng mà không phá hủy các hệ thống sinh học; nó phải được làm khô và đưa lên trong dung môi tương hợp . Tương tự như vậy, một hợp chất được vận chuyển trong một dung môi nước đơn giản có thể được đưa trực tiếp vào trong quá trình phản ứng nhưng không thề là dung môi tốt nhất cho việc lưu trữ trong thời gian dài. Từ khía cạnh sản xuất, chất hóa học phóng xạ được cung cấp trong dung môi đó là một sự thỏa hiệp giữa độ bền, độ tan của hợp chất và sự thuận lợi của điều tra viên.<O:p></O:p>
Becquerels, chia cho 27 (27.027): 50 microCi =50 x 10<SUP>-6</SUP> Ci =(50 x 10<SUP>-6</SUP> Ci x 3.7 x 10<SUP>10</SUP> dps/Ci) =1.85 x 10<SUP>6</SUP> dps =1.85 x 10<SUP>6</SUP> Bq = 1.85 MBq.)<O:p></O:p>
Một số dung môi thông thường được sử dụng và những lý do mà chúng được sử dụng:<O:p></O:p>
Ethanol, 2%. Được thêm vào dung môi nước nơi mà nó diễn ra như một vật ăn xác thối có gốc tự do và sẽ kép dài thời gian sử dụng của hợp chất được đáng dấu phóng xạ.<O:p></O:p>
Toluene hoặc benzene. Hầu hết thường được sử dụng để tăng độ bền cùa hợp chất được đánh dấu phóng xạ, và tăng độ tan của các hợp chất không phân cực như là chất lỏng.<O:p></O:p>
2-mercaptoethanol, 5mM. Giúp giảm thiểu sự bay hơi cùa Sulfur phóng xạ từ các amino acid và các nucleotide trong dạng SO<SUB>2</SUB> và các phân tử dễ bay hơi khác.<O:p></O:p>
Colored dyes. Được thêm cho sự thuận lợi của điều tra viên để hình dung được sự hiện diện của lực phóng xạ.<O:p></O:p>
Khi không sử dụng, dung dịch gốc của hợp chất phóng xạ được đập lại và thường được đông lạnh để giảm thiểu quá trình bay hơi/ bốc hơi.<O:p></O:p>
Lượng phóng xạ mà bạn nên mua?<O:p></O:p>
Có ba vấn đề cần được xem xét khi quyết định lượng vật liệu cần mua:<O:p></O:p>
1. Bạn cần sử dụng bao nhiêu lực phóng vạ và qua chu kỳ nào?<O:p></O:p>
2. Những giới hạn tại cơ quan ảnh hưởng đến lượng đồng vị phóng xạ đã được quyết định rằng phòng thí nghiệm của bạn có thể được ủy quyền sử dụng cái gì<O:p></O:p>
3. Giới hạn phân rã của hợp chất phóng xạ đã được đánh dấu và chu kỳ nửa phân rã của nó là gì? <O:p></O:p>
Thông thường bạn sẽ mua số lượng chất phóng xạ lớn nhất mà bạn có thể mua để tiết kiệm chi phí ban đầu, trong khi đó tại cùng một thời điểm thì không có sự thỏa hiệp nào về chất lượng của các kết quả trong quá trình nghiên cứu bằng cách sử dụng các vật liệu phóng xạ. Chẳng hạn như, các dạng nào đó của hợp chất Thymidine chứa Tritium có thể có những giới hạn phân rã phân ly phóng xạ (sự giảm phẩm chất của Thymidine) của 4% mỗi tuần. Giới hạn phân rã này không được nhầm với giới hạn của Tritium, hoặc với chu kỳ nửa phân rã, có hơn 12 năm. Lưu trữ nó như chất liệu phân rã nhanh, hoặc bằng cách sử dụng nó nhiều hơn một số tháng có thể dàn xếp những cuộc thí nghiệm tiến hành sau đó trong cuộc đời sản phẩm.<O:p></O:p>
</O:p>
 
Những tiêu chuẩn nào cần chú ý khi lựa chọn một thiết bị cân?

Sức cân và khả năng đọc (Capacity and Readability)
Hãy chú ý vào việc xác định nhu cầu về khả năng đọc thực tế của bạn. Chi phí tăng đáng kể khi khả năng đọc tăng. Bạn cũng phải luôn nhớ rằng một cái cân có chất lượng thường có độ phân giải nội bộ tốt hơn độ phân giải hiển thị. Khi kích thước mẫu nhỏ, tính ổn định là một đặc điểm yêu cầu cao hơn trong cân phân tích.

Sự định cỡ (Calibration)
Hầu hết cân trong phòng thí nghiệm chất lượng cao sẽ tự định cỡ hoặc sẽ có một vài quả cân đi kèm để người sử dụng có thể làm.

Các ứng dụng
Hầu hết các ứng dụng thí nghiệm yêu cầu chỉ có một chức năng cân. Cân phân tích có thể có ứng dụng hiệu chỉnh sức nâng của không khí, hay sự xác định đường kính sợi. Các chức năng khác bao gồm:
• Kiểm tra cân. Đặt một khối lượng đích hay một khối lượng mong muốn; sau đó cân mẫu để kiểm tra nó có đạt trọng lượng đích hay không.
• Sự tích lũy. Tính toán lượng mà một công thức đã đặt trước được bổ sung dần bằng vật liệu đang được cân.
• Tổng số. Tính toán số mẫu có mặt dựa trên khối lượng kiểm chứng của một mẫu.
• Tính toán tác nhân. Áp dụng một mẫu đã cân vào một công thức để tính ra kết quả cuối cùng.
• Cân phần trăm. Một mẫu đã đo là biểu hiện cho bao nhiêu phần trăm của một lượng mong muốn đã đặt trước.
• In ra thông tin và khối lượng mẫu.

Giao diện máy tính
Một số thiết bị có thể chia sẻ dữ liệu với máy tính.

Bạn có thể tạo ra những số đo có thể tin tưởng và có thể tái tạo nhất như thế nào?

Kích thước vật chứa
Sử dụng vật chứa nhỏ nhất có thể phù hợp với nhiệm vụ cân để giảm ảnh hưởng của bề mặt và sức nâng.

Điều kiện mẫu
Nhiệt độ mẫu nên được cân bằng với nhiệt độ xung quanh và nhiệt độ của cân. Điều này sẽ ngăn chặn dòng đối lưu trên bề mặt. Những mẫu lạnh sẽ trở nên nặng hơn, và mẫu nóng sẽ nhẹ hơn.

Độ ẩm
Nếu môi trường cân có độ ẩm thấp, không nên sử dụng các vật chứa bằng nhựa, chủ yếu là bởi xu hướng tích điện tĩnh điện của chúng. Nên sử dụng những vật chứa có thành phần 100% thủy tinh bởi tính phi dẫn của chúng.

Thao tác mẫu
Nếu cần có độ phân giải cao (1mg hay nhỏ hơn), mẫu không nên để tiếp xúc với da người sử dụng. Chỉ một chút mồ hôi cũng làm tăng khối lượng và hút ẩm (lên tới 400 g). Cơ thể cũng sẽ truyền nhiệt lên mẫu, gây ra các vấn đề đã đề cập phía trên.

Vị trí đặt mẫu
Mẫu nên được đặt càng gần tâm đĩa cân càng tốt. Việc tải xa tâm gây ra mômen quay mà không thể được đối trọng hoàn toàn bởi thiết bị. Vấn đề này được gọi là lỗi tải xa tâm.

Mẫu hút ẩm
Cân mẫu trong vật chứa kín nhất.
Làm thế nào để bạn có thể giảm thiểu các cuộc gọi hỗ trợ?
Thiết bị cân lý tưởng nên được định cỡ hàng ngày, và một kĩ thuật viên được chứng nhận nên thi thoảng làm sạch cân và vật định cỡ để chúng giữ được độ chính xác. Có thể tránh nhiều vấn đề liên quan hơn bằng cách giảm thiểu việc sử dụng những vật này.

Nếu những thiết bị này bắt buộc phải sử dụng hay di chuyển, phải thực hiện rất cẩn thận. Việc đánh rơi vài inch cũng có thể gây ra phí tổn hàng nghìn dollar cho một cái cân phân tích. Nếu di chuyển, hãy sử dụng bao gói gốc của nó, cái mà được thiết kế riêng cho thiết bị của bạn. Tránh bất kỳ di chuyển nào mà có thể phá hủy sự định cỡ của một thiết bị.

MÁY LI TÂM (Kristin A.Prasauckas)

Lí thuyết và Chiến lược
Có phải tất cả các chiến lược li tâm tinh sạch qua một cơ chế hay không?
Li tâm theo vùng, hay vùng tốc độ, phân tách các phần tử dựa trên khối lượng, điều phản ánh hệ số lắng của phần tử. Mẫu di chuyển khoảng cách càng lớn, độ phân tách càng tăng. Kích thước trung bình của polyme nucleic acid tổng hợp thường được xác định bằng việc li tâm theo dải.
Li tâm mật độ cân bằng hay isopycnic phân tách dựa trên mật độ của phần tử, không phải kích thước. Các phần tử di chuyển tới một vị trí mà mật độ của phần tử hợp với mật độ môi trường li tâm. Sự tinh sạch DNA plasmid trên cesium chloride là một ví dụ của loại li tâm này. Voet và Voet (1995) và Rickwood (1984) đã trình bày những kĩ thuật và ứng dụng của việc phân tách isopycnic.
Việc tạo viên tròn khai thác các khác nhau trong tính tan, kích thước, hay mật độ để tập trung vật liệu ở đáy của ống li tâm (Hình 4.1). Rotor đề nghị cho những quy trình này được mô tả trong Bảng 4.1.

Hình 4.1: Các loại li tâm gradient mật độ
(a) Li tâm vùng tốc độ. Mẫu được tải lên trên đỉnh của gradient mật độ đã hình thành trước (trái), và sự li tâm tạo ra một loạt vùng các phần tử lắng theo các tốc độ khác nhau phụ thuộc vào kích thước phần tử (phải). (b) Li tâm isopycnic sử dụng một gradient mật độ đã hình thành trước. Mẫu được tải lên trên đỉnh của gradient (trái), và mỗi mẫu lắng cho tới khi nó đạt tới cân bằng gradient với mật độ của nó (phải). Do đó vị trí cuối cùng của mỗi loại phần tử trong gradient (vị trí isopycnic) được xác định bởi mật độ phần tử. (c) Li tâm isopycnic sử dụng gradient tự động. Mẫu được trộn với môi trường gradient để đưa ra một hỗn hợp có mật độ đồng nhất (trái). Trong suốt quá trình li tâm sau đó, môi trường gradient tái thiết lập để tạo ra một gradient mật độ và các phần tử mẫu xếp thành băng tại vị trí isopycnic của chúng (phải).
Theo cuốn Centifugation:APractical Approach (2ndEd.). 1984. Rickwood, D., ed. Reprinted by permission of Oxford University Press.

Những chiến lược nào để lựa chọn ra một chiến lược tinh sạch?
Có nhiều và có khả năng tái tạo các quy trình tinh sạch nucleic acid (Ausubel et al., 1998). Những phương pháp để phân lập tế bào và những phần tử dưới tế bào được cung cấp trong tài liệu nghiên cứu và bởi các nhà sản xuất các phương tiện li tâm. Nhưng thông thường chúng đòi hỏi sự tối ưu, đặc biệt khi mẫu của bạn có bản chất khác với cái được đề cập trong protocol.
Nếu bạn không thể tìm ra một protocol trong tài liệu và sách nghiên cứu, hãy liên hệ với nhà sản xuất phương tiện li tâm. Nếu bạn không thể thấy một tài liệu tham khảo chính xác cho mẫu của bạn, hãy nghĩ đến một protocol dành cho một mẫu có tính liên hệ. Nếu tất cả những cái đó đều thất bại, hãy tìm kiếm mật độ đã công bố của mẫu của bạn. Những nhà sản xuất các thiết bị và phương tiện li tâm có thể cung cấp sự hướng dẫn xây dựng gradient dựa trên mật độ mẫu của bạn. Rickwood (1984) cũng đưa ra chỉ dẫn tuyệt vời cho việc xây dựng gradient.

Máy li tâm nào phù hợp nhất với công việc của bạn?
Chiến lược li tâm của bạn sẽ chỉ ra sự lựa chọn máy li tâm, nhưng những hướng dẫn chung sẽ cung cấp một điểm khởi đầu. Một ví dụ được đưa ra trong Bảng 4.2.

Thực hành
Bạn có thể sử dụng bản kiểm kê rotor có sẵn hay không?
Hầu hết các rotor chỉ thích hợp với những máy li tâm của cùng một nhà sản xuất. Hãy xác nhận sự phù hợp của rotor với nhà sản xuất máy li tâm của bạn.

Điều gì là những lựa chọn của bạn nếu bạn không có quyền sử dụng rotor tương tự như đã nói trong một quy trình?
Cách lý tưởng là bạn nên sử dụng một rotor với góc và bán kính giống như được nói trong protocol. Nếu bạn phải làm việc với một thiết bị đổi, hãy nghĩ tới ảnh hưởng lực g của khổ rotor khi lắp vào với chiến lược li tâm của bạn. Lực g này là một đơn vị phổ biến để đo đạc, do đó lựa chọn một rotor dựa trên một lực g tương đương, hay RCF, sẽ tạo ta những kết quả có thể tái sinh được hơn là lựa chọn một rotor dựa trên đặc điểm rpm.
Sự chuyển đổi giữa RCF và rpm
Lực g= 11.18 x R (rpm/1000)2

Khổ rotor
Những protocol thiết kế cho rotor swinging-bucket có thể dễ dàng chuyển sang là một rotor fixed-angle. Sự chuyển đổi này cũng đúng.

Góc rotor
Góc rotor càng nông (càng gần với đường thẳng đứng), khoảng cách mẫu di chuyển càng ngắn, và quá trình li tâm diễn ra càng nhanh. Thông số này cũng làm thay đổi dạng của gradient tạo ra trong quá trình li tâm, và vị trí của vật liệu đã tạo viên. Rotor càng gần với đường ngang, viên vật liệu càng có hướng tạo thành ở đáy của ống li tâm (Hình 4.2).

Bán kính
Bán kính đưa ra nhiều ảnh hưởng lên rotor fixed-angle và horizontal. Lực g được tính như sau, và vẫn còn chính xác cho máy li tâm tiêu chuẩn và vi li lâm.
Lực g = 1.12 x 10-5 x r x rpm
r = bán kính (cm)
Lực li tâm có thể dc mô tả là một giá trị lớn nhất (g-max), nhỏ nhất (g-min), hay trung bình (g-tb). Nếu không có hậu tố nào đi kèm, người ta thừa nhận rằng quy trình đưa ra giá trị g-max. Các lực g khác nhau này được xác định cho mỗi rotor bởi nhà sản xuất.
Bán kính của rotor swinging bucket là khoảng cách giữa tâm rotor và đáy bucket khi nó nằm ngang hoàn toàn (Hình 4.2a). Bán kính rotor càng lớn, lực g càng lớn.
Khoảng cách giữa tâm rotor fixed angle và đáy khoang chứa ống quyết định bán kính của rotor fixed-angle (Hình 4.2b). Hơn nữa, lực g tăng ngay khi bán kính tăng.
Góc rotor càng lớn, khoảng cách mẫu phải di chuyển càng lớn trước khi nó tạo viên (Hình 4.2b). Khoảng cách di chuyển này cũng ảnh hưởng tới dạng gradient mật độ (Hình 4.3).
Yếu tố k của rotor fixed-angle cung cấp phương pháp dự đoán thời gian cần thiết để li tâm của các rotor fixed-angle khác nhau.
Yếu tố k là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả tạo viên; những rotor với yếu tố k nhỏ (góc fixed hoặc vertical nhỏ) tạo viên hiệu quả hơn trong thời gian chạy nhỏ hơn. Yếu tố k cũng có thể xác định thời gian cần thiết để tạo gradient khi thay đổi giữa các rotor khác nhau. Yếu tố k có thể xác định bởi:

Phương trình (2) sử dụng yếu tố k để dự doán thời gian cần thiết để li tâm với các rotor fixed-angle khác nhau:

T1 là thời gian chạy (phút) cho protocol được thiết lập. Trước tiên, hãy xác định yếu tố k1 tại tốc độ tương ứng với rotor đã được đưa ra. Sau đó, xác định yếu tố k2 tại tốc độ lựa chọn cho rotor của bạn. Cuối cùng, tìm ra T2. Chiến lược này không phù hợp để chuyển các protocol giữa các loại rotor (fixed-angle, horizontal, và vertical).
Có nên li tâm những vật liệu dễ cháy, nổ, hay nguy hại sinh học trong thiết bị li tâm tiêu chuẩn hay không?
Những nhà sản xuất máy li tâm đề nghị rõ ràng là máy li tâm tiêu chuẩn phòng thí nghiệm không nên sử dụng cho bất kỳ vật liệu nào có khả năng gây cháy nổ, hay các phản ứng tỏa nhiệt mạnh. Có thiết bị chuyên dụng để li tâm những chất nguy hiểm.
Ống li tâm nào là phù hợp cho ứng dụng của bạn?
Một vật chứa mẫu bị vỡ hay thủng có thế phá hoại nghiêm trọng máy li tâm bởi phá rotor khỏi trạng thái cân bằng hoặc phơi các thành phần cơ và điện tới hóa chất gây hại.
Sự phá hoại có thể xảy ra tại bất cứ tốc độ nào. Hãy chỉ sử dụng những ống được đề nghị cho ứng dụng li tâm. Nếu không chắc chắn, hãy liên hệ với nhà sản xuất ống để đánh giá khả năng phù hợp.
Với xu hướng tiến tới mẫu kích thước nhỏ hơn và lượng vật liệu lớn hơn, vi đĩa ngày càng trở nên phổ biến. Những protocol khác yêu cầu lọ nhỏ và mặt nghiêng (slide). Đừng bao giờ cố gắng tạo thiết bị phỏng theo (adapter) của riêng bạn cho những vật chứa này; hãy hỏi nhà sản xuất rotor về sự đáp ứng của các thiết bị chuyên dụng.

Sự phù hợp
Sự vừa khít ống là đặc điểm then chốt, đặc biệt tại lực g lớn. Những ống và vật chứa quá lớn có thể bị kẹt trong rotor, khi ống lỏng có thể gây rò rỉ hay vỡ. Không bao giờ sử dụng các vật phỏng theo tự làm. Trong khi một ống bị vỡ không tốn kém, vật chứa không vừa có thể gây ra chi phí sửa chữa lớn.

Lực g
Lượng nhiều ống là không phù hợp cho li tâm ứng suất cao. Khi bạn băn khoăn về giới hạn của lực g, hãy liên hệ với nhà sản xuất ống. Nếu điều này không khả thi, bạn có thể kiểm tra ống bằng cách đổ đầy nước, li tâm ở rpm thấp, và kiểm tra ống về sự phá hủy hay dấu hiệu của ứng suất trong khi tăng chậm tốc độ.

Tính tương thích hóa học
Xác nhận độ bền của ống với nhà sản xuất. Vật chứa không bền với mẫu có thể vẫn không sao sau một hay vài lần li tâm nhưng chắc chắn nó sẽ bị yếu đi. Nên luôn kiểm tra độ bền hóa học bằng những biểu hiện chống chịu trước khi sử dụng. Sự li tâm lại sau đó có thể phá hủy bất kỳ vật chứa nào.
 
Em post những phần nợ của mấy tuần qua nên hơi dài. Do ngại chỉnh lại font 1 số tiêu đề nên nó cứ trơn nhẵn vậy, mong mọi người thông cảm.

Có một số từ ko dịch được, mọi người xem giùm.

Cảm ơn nhiều,
Nhâm Ngọc
 

Nguyễn Xuân Hưng

Administrator
Em post những phần nợ của mấy tuần qua nên hơi dài. Do ngại chỉnh lại font 1 số tiêu đề nên nó cứ trơn nhẵn vậy, mong mọi người thông cảm.

Có một số từ ko dịch được, mọi người xem giùm.

Cảm ơn nhiều,
Nhâm Ngọc
Rất rất xin lỗi mọi người, độ này mình bận quá không đủ thời gian để đọc và sửa chỉ tiết. Mình chỉ nhặt ra các từ Ngọc còn chưa tìm được từ tiếng Việt dưới đây. Mong các bạn thông cảm. Lần sau nếu có thể mong các bạn đánh dấu đậm hoặc bôi đỏ các từ còn chưa rõ nghĩa hoặc có thể post thành một list ở cuối hay đầu bài sẽ dễ cho mình hơn.

Một lần nữa thành thật xin lỗi, hy vọng có thể quay lại tiến độ trong tháng 4 tới.

Cảm ơn mọi người nhiều.

[FONT=&quot]Calibration: căn chỉnh (ý của từ này là chuẩn hóa lại cân cho chính xác)<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]Isopycnic: đẳng mật độ (có cùng mật độ)<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]Protocol: quy trình[/FONT]
[FONT=&quot]swinging-bucket rotor: rotor góc ly tâm biến thiên (có thể google search với từ khóa này, dùng cách search hình ảnh để hình dung loại rotor này vì loại này không phổ biến ở Việt Nam)<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]fixed-angle rotor: rotor góc ly tâm cố định (có thể google search với từ khóa này, dùng cách search hình ảnh để hình dung loại rotor này, loại này phổ biến ở Việt Nam)<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]horizontal: ngang[/FONT]
[FONT=&quot]bucket: ống chứa<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]vertical: thẳng đứng<o></o>[/FONT]
[FONT=&quot]adapter: ống chứa (ý nói chỗ chứa các tube dùng trong ly tâm, không biết có từ nào hay hơn nhỉ, mọi người góp ý giúp với).[/FONT]
[FONT=&quot]reproducibility: độ lặp lại, khả năng lặp lại<o></o>[/FONT]
 

Cao Xuân Hiếu

Administrator
[FONT=&quot]swinging-bucket rotor: [/FONT] => rotor văng
[FONT=&quot]adapter: [/FONT] => ống (đoạn) chuyển / nối => mục đích điều chỉnh kích thước của ống ly tâm cho phù hợp với rotor
[FONT=&quot]bucket: [/FONT] => ống ly tâm (có thể hiểu trong trường hợp này)
 
Bản kê danh mục cần kiểm tra khi sử dụng máy li tâm

Kiểm tra sương trong buồng máy li tâm. Sự tích tụ sương phải được loại bỏ bởi nó có thể cản trở sự kiểm soát chính xác nhiệt độ. Nên lau sạch dịch tràn có sẵn trước khi khởi động máy li tâm.

Nếu thiết bị của bạn sử dụng mã nhận dạng rotor, nó có phần mềm tương ứng để nhận biết và điều khiển rotor hay không? Không áp dụng mã nhận dạng của một rotor cho rotor thứ hai mà không có mã nhận dạng của riêng nó. Hãy xác nhận bằng tay giới hạn tốc độ của rotor nếu mã nhận dạng không liên quan.

Kiểm tra rotor về dấu hiệu bị ăn mòn hay hư hỏng. Nếu bạn thấy bất kỳ dấu hiệu bị ép hay rỗ trên khoang rotor, hãy ngừng sử dụng. Nếu bạn khó khóa rotor, đậy nắp hoặc khóa rotor vào máy li tâm, nên ngừng sử dụng rotor này. Kiểm tra tất cả các vòng O trên rotor và phần giữ mẫu phải hiện có, sạch, trong điều kiện vật lí tốt, và được tra dầu. Nhiều rotor góc li tâm cố định có một vòng O bao phủ, trong khi nhiều rotor mà có khóa với bộ phận truyền động có một vòng O trục quay truyền động. Nếu bạn có băn khoăn về hiện trạng của rotor, hãy ngừng sử dụng và yêu cầu sự kiểm tra từ nhà sản xuất. Tất cả ống li tâm và/hoặc phần mang trong ống li tâm của rotor văng phải đặt đúng vị trí, thậm chí khi những vị trí này trống. Sử dụng đúng ống nối và ống, như đã được trình bày phía trên. Cân bằng ống và chai của bạn. Hãy tham khảo chỉ dẫn của nhà sản xuất cho dung sai cân bằng, dung sai này biến đổi theo các rotor khác nhau. Đặt rotor lên trục quay và kiểm tra sao cho nó đã được đặt đúng vị trí. Nhiều rotor phải được đóng chặt với bộ phận phát động. Cố gắng nhẹ nhàng nâng rotor lên khỏi bộ phận phát động để kiểm tra lần cuối rằng rotor đã được lắp đặt đúng.

Bắt đầu li tâm. Mặc dù hầu hết sự mất cân bằng xảy ra tại tốc độ thấp, hãy kiểm tra máy li tâm cho tới khi nó đạt tốc độ cuối. Nếu một sự mất cân bằng xảy ra, hãy kiểm tra lại sự cân bằng của ống và vị trí của rotor.

Phanh có nên áp dụng không, nếu có, ở cấp độ nào?
Nếu phanh được chuyển sang chế độ tắt hoàn toàn, có thể phải mất hàng giờ để cho rotor dừng lại, phụ thuộc vào tốc độ lớn nhất và điều kiện thiết bị (chạy chân không). Phanh càng đặt cứng, sự lắc mẫu càng mạnh, vì vậy phải chú ý phần cài đặt mặc định của hầu hết các thiết bị là tốc độ phanh cứng nhất và nhanh nhất. Tốc độ phanh được giảm khi phân tách mẫu có mật độ tương đương, khi đòi hỏi có lớp và gradient có độ phân giải cao, và khi cần tạo thành viên xốp, không kết chặt. Cấp độ lắc, kĩ thuật phanh, và kí hiệu thay đổi giữa các nhà sản xuất, nên phải tham khảo thao tác hoạt động hoặc liên hệ với nhà sản xuất để thảo luận chế độ cài đặt phanh phù hợp với việc sử dụng của bạn. [Chiều ngược lại đúng khi xem xét tới sự giảm tốc độ.] Nếu bạn đang lựa chọn vị trí phải điều khiển (hay vị trí bắt đầu), nên sử dụng 1000-1500 rpm.
 
Li tâm DNA và RNA
Đường cong Deration ảnh hưởng tới chiến lược li tâm của bạn như thế nào?
Deration mô tả trường hợp rotor không đạt được tốc độ lớn nhất bởi sử dụng dung dịch mật độ cao trong khi phân tách. Thí dụ, li tâm ở lực g cao, dung dịch CsCl đặc sẽ lắng ở mật độ khoảng 1.9g/ml, đây là một trường hợp mà có thể bật đáy của rotor. Đường cong Deration cung cấp bởi nhà sản xuất rotor sẽ chỉ ra những tốc độ mà có thể làm cho dịch li tâm kết tủa (centrifugation media to precipitate) và từ đó có thể phá hại rotor hay máy li tâm (Hình 4.4).
Một rotor thẳng đứng có vuông góc không?
Rotor thẳng đứng có thể tinh sạch DNA thông qua li tâm CsCl trong ba giờ, tương tự như sử dụng rotor góc li tâm cố định chạy qua đêm. Rotor thẳng đứng tái định hướng mẫu của bạn (Hình 4.5), do đó chỉ có xác suất nhỏ là RNA đã tạo viên trên thành ngoài của ống sẽ làm nhiễm DNA bởi nó đóng vai trò là chất tái định hướng DNA.

Rotor gần phương thẳng đứng của Beckman-Coulter loại trừ được vấn đề này (Hình 4.6). Góc 9° của rotor này cho phép RNA tạo viên ở đáy ống mà không làm nhiễm DNA. Sự gần phương thẳng đứng rút gọn thời gian. Triton X100 được áp dụng cho hệ thống gần phương thẳng đứng này để tăng sự phân tách RNA từ DNA plasmid, mặc dù người ta cũng chưa kiểm tra sự ảnh hưởng của chất tẩy lên các việc sử dụng DNA sau đó (Application Note A-1790A,Beckman-Coulter Corporation).

Rotor thẳng đứng cũng cho phép ống được kéo thẳng mà chúng ta không phải băn khoăn về sự phá vỡ gradient. Rotor góc li tâm cố định tạo ra các băng tại một góc, nó yêu cầu ta phải cẩn thận hơn khi chuyển mẫu ra khỏi rotor.

Bạn có thể làm gì để cải thiện sự phân tách của DNA siêu xoắn từ plasmid giãn (Relaxed Plasmid)?
Sự li tâm tại lực g nhỏ sẽ làm tăng độ phân giải của DNA xoắn và giãn. Áp dụng gradient chạy theo bước (a step-run gradient), tại đó tốc độ cao được thiết lập theo gradient, theo sau bởi tốc độ và lực g nhỏ để phân tách tốt DNA xoắn và giãn. Các nhà sản xuất rotor có thể cung cấp những điều kiện phù hợp cho việc chạy theo bước của tổ hợp máy li tâm-rotor của bạn.

Những từ này xin tham khảo ý kiến mọi người về nghĩa:
đường cong Deration (Deration Curve)
dịch li tâm kết tủa (centrifugation media to precipitate)
plasmid giãn (Relaxed Plasmid)
gradient chạy theo bước (a step-run gradient)
 
Xử lí sự cố
Bạn có thể làm gì để không cần gọi trợ giúp từ nhà sản xuất?
Những sách hướng dẫn sử dụng rất hay được cất trong tủ, và không bao giờ được lấy ra. Đây là một lỗi lớn bởi những cuốn sách này chứa thông tin để có thể giải quyết các vấn đề mà không phải lo tới chi phí và sự chậm trễ khi trợ giúp của nhà sản xuất.

Những thiết bị cũ nên có động cơ lau. Thiết bị càng được hay sử dụng, , chổi lau càng nên được thường xuyên thay mới. Bạn có thể tự làm việc này bởi nhà sản xuất thường cung cấp hướng dẫn chi tiết sử dụng cho chổi lau. Hầu hết thiết bị được trang bị một đèn tín hiệu báo khi chổi lau hỏng. Khi sửa chữa, hãy ngắt nguồn điện và tham khảo nhà sản xuất để đề phòng bất cứ rủi ro nào.

Vật thể sạch. Những vật liệu bẩn và tràn khi li tâm có thể đi vào ngăn chứa động cơ và gây lỗi. Hãy lau sạch dịch tràn trong thiết bị càng sớm càng tốt.
Khi không sử dụng, hãy ngắt nguồn máy li tâm lạnh, và mở cửa buồng để thoát hơi ẩm. Nếu thiết bị phải được duy trì điện, đóng cửa buồng càng khít càng tốt và kiểm tra sương trước khi sử dụng.

Hãy kiểm tra mặt phẳng đặt thiết bị sau khi nó được chuyển chỗ. Sự không định phẳng của thiết bị có thể làm phá hủy cơ cấu truyền động. Nên gọi bảo dưỡng sau khi di chuyển thiết bị để có thể ngăn chặn những vấn đề có khả năng xảy ra và để chắc chắn rằng máy vẫn hoạt động tốt.

Làm thế nào để lau dịch tràn trong máy li tâm một cách tốt nhất?
Nên lau sạch ngay dịch tràn và có sử dụng chất tẩy cung cấp bởi nhà sản xuất. Họ thường đề nghị sử dụng chất tẩy nhẹ trong sách hướng dẫn. Tránh chất tẩy mạnh như chất tẩy trắng hay những hóa chất có tính phenol.

Khi máy li tâm giật, bạn phải làm gì?
Các máy cũ thường có khuynh hướng giật khi không cân bằng. Nếu lắc nhẹ, hãy nhấn phím tắt trên thiết bị. Nếu lắc mạnh, ngắt nguồn điện bằng cách không sử dụng tới công tắc của thiết bị. Bạn không thể đoán trước được thiết bị sẽ giật lên khi nào và như thế nào. Một máy siêu li tâm có thể mất hàng giờ để dừng hoàn toàn. Nếu cần, hãy làm sạch khu vực quanh thiết bị và cho nó có thể di chuyển. Máy sẽ lắc mạnh nhất tại tốc độ tới hạn phụ thuộc của rotor, thường dưới 2000rpm. Bạn đừng bao giờ cố gắng mở cửa buồng khi rotor đang quay, và vào khu vực có rotor thậm chí khi cửa buồng đã được mở. Cũng đừng cố gắng sử dụng bất kì lực vật lí nào để hạn chế sự chuyển động của máy. Nên tránh xa khỏi thiết bị tới khi nó dừng hẳn.
 
Còn chương nào thiếu người không??
Mình nhiệt tình tham gia

Võ Khánh Hưng

Hãy cùng giúp nền khoa học nước nhà phát triển
 

Nguyễn Xuân Hưng

Administrator
Còn chương nào thiếu người không??
Mình nhiệt tình tham gia

Võ Khánh Hưng

Hãy cùng giúp nền khoa học nước nhà phát triển
Bạn có thể pm cho mình về nơi công tác, chuyên môn, thời gian có thể sử dụng cho việc dịch được không?
 

Similar threads

Facebook

Top